verified_user100% Chính hãnglocal_shippingMiễn phí vận chuyểnboltGiao nhanh 2 giờ
Logo
RXBa LanBa Lan

Thuốc Zolafren 5 mg Adamed điều trị tâm thần phân liệt 28 viên

star_outlinestar_outlinestar_outlinestar_outlinestar_outline
0.0(0 đánh giá)
Sản phẩm bán theo đơn bác sĩ

Thông tin vận chuyển

location_onGiao đến Đang định vị...
local_shipping
Giao hàng tiêu chuẩn
Giao nhanh tận nơi toàn quốc · Đổi trả miễn phí trong 7 ngày

Thông tin chi tiết

Danh mụcThuốc hướng thần
Hoạt chấtOlanzapin
Quy cáchHộp 2 vỉ x 14 viên
Nhà sản xuấtAdamed Pharma S.A.
Nước sản xuấtBa lan
Dạng bào chếViên nén
Hạn dùng24 tháng kể từ ngày sản xuất
Hàm lượng5 mg

Mô tả chi tiết sản phẩm

Kích thước chữ

Thông tin chung

Zolafren 5mg Adamed (hộp 28 viên) chứa hoạt chất Olanzapine 5mg, là thuốc kê đơn thuộc nhóm chống loạn thần không điển hình dùng trong điều trị tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.

Thành phần

Hoạt chất chính Hàm lượng
Olanzapin 5 mg

Chỉ định

Chỉ định chính của Zolafren 5mg:

Người lớn

  • Olanzapin được chỉ định để điều trị tâm thần phân liệt.
  • Olanzapin có hiệu quả trong việc duy trì cải thiện tình trạng bệnh trên lâm sàng khi tiếp tục điều trị cho những bệnh nhân đã có đáp ứng ban đầu.
  • Olanzapin được chỉ định để điều trị giai đoạn hưng cảm vừa đến nặng.
  • Ở những bệnh nhân có giai đoạn hưng cảm đáp ứng với olanzapin, olanzapin được chỉ định để dự phòng tái phát trong trường hợp rối loạn lưỡng cực.

Chống chỉ định

  • Quá mẫn với olanzapin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
  • Bệnh nhân có nguy cơ mắc glôcôm góc hẹp.

Liều lượng - Cách dùng

Cách dùng:

  • Thuốc dùng đường uống.

Liều dùng:

Người lớn

  • Tâm thần phân liệt: Liều olanzapin khởi đầu đề nghị là 10 mg/ngày.
  • Giai đoạn hưng cảm: Liều khởi đầu là 15 mg hàng ngày, uống một lần duy nhất trong đơn liệu pháp hoặc 10 mg hàng ngày trong liệu pháp phối hợp thuốc.
  • Dự phòng tái phát trong rối loạn lưỡng cực: Liều khởi đầu đề nghị là 10 mg/ngày. Với những bệnh nhân đang sử dụng olanzapin để điều trị giai đoạn hưng cảm, tiếp tục dự phòng tái phát với cùng mức liều. Nếu ghi nhận giai đoạn hưng cảm, hỗn hợp hoặc trầm cảm mới xuất hiện, cần tiếp tục dùng olanzapin (với liều tối ưu theo nhu cầu) cùng với thuốc điều trị các triệu chứng cảm xúc tùy theo tình trạng bệnh trên lâm sàng.
  • Khi điều trị tâm thần phân liệt, giai đoạn hưng cảm hoặc dự phòng tái phát trong rối loạn lưỡng cực, có thể điều chỉnh liều hàng ngày dựa trên tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân trong khoảng liều từ 5 - 20 mg/ngày. Chỉ nên tăng liều cao hơn liều khởi đầu đề nghị sau khi đã đánh giá lại tình trạng bệnh nhân và chỉ nên tăng liều sau những khoảng thời gian không dưới 24 giờ. Có thể sử dụng olanzapin không phụ thuộc vào bữa ăn do mức độ hấp thu thuốc không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Cần giảm liều olanzapin từ từ khi định ngừng thuốc.

Trẻ em và thiếu niên

  • Không khuyến cáo sử dụng olanzapin cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi do chưa có dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của thuốc trên các đối tượng bệnh nhân này. Mức độ tăng cân lớn hơn, thay đổi lipid và prolactin nhiều hơn ở thiếu niên so với ở người lớn đã được ghi nhận trong các nghiên cứu ngắn hạn.

Bệnh nhân cao tuổi

  • Liều khởi đầu thấp hơn (5 mg/ngày) không thường xuyên được chỉ định nhưng có thể cân nhắc sử dụng cho bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên nếu các yếu tố lâm sàng cho phép.

Bệnh nhân suy thận và/hoặc suy gan

  • Có thể cân nhắc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn (5 mg/ngày) ở những bệnh nhân này. Trong trường hợp thiểu năng gan mức độ trung bình (xow gan, Child-Pugh A hoặc B), nên sử dụng liều khởi đầu là 5 mg và cần thận trọng khi tăng liều.

Giới tính

  • Thường không cần phải thay đổi liều khởi đầu và khoảng liều khi sử dụng cho bệnh nhân nam và nữ.

Bệnh nhân hút thuốc

  • Thường không cần phải thay đổi liều khởi đầu và khoảng liều khi sử dụng cho bệnh nhân hút thuốc và không hút thuốc. Chuyển hóa olanzapin có thể gây ra bởi hút thuốc. Khuyến cáo theo dõi lâm sàng và có thể tăng liều olanzapin nếu cần thiết.

Nếu bệnh nhân có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ có thể làm giảm chuyển hóa thuốc (giới tính nữ, cao tuổi, không hút thuốc), cần cân nhắc giảm liều. Cần thận trọng khi tăng liều ở những bệnh nhân này.

Tác dụng phụ

Người lớn

  • Các phản ứng bất lợi hay gặp nhất (được ghi nhận ở > 1% bệnh nhân) liên quan đến việc sử dụng olanzapin trong các thử nghiệm lâm sàng là ngủ gà và tăng cân, tăng bạch cầu ái toan, tăng nồng độ prolactin, cholesterol, glucose và triglycerid, glucose niệu, tăng thèm ăn, chóng mặt, bồn chồn, hội chứng Parkinson, loạn vận động, tụt huyết áp tư thế đứng, tác dụng kháng cholinergic, tăng men gan thoáng qua không biểu hiện triệu chứng, phát ban, suy nhược, mệt mỏi và phù.
  • Bảng dưới đây liệt kê các phản ứng bất lợi và xét nghiệm sinh hóa ghi nhận được từ các báo cáo tự phát và trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi được sắp xếp theo thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng. Tần suất phản ứng bất lợi được quy ước như sau: rất hay gặp (≥ 10%), hay gặp (≥ 1% và < 10%), ít gặp (≥ 0,1% và < 1%), hiếm gặp (≥ 0,01% và < 0,1%), rất hiếm gặp (< 0,01%), chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng tần suất từ dữ liệu hiện có).
Rất hay gặp Hay gặp Ít gặp Hiếm gặp Chưa rõ tần suất
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
  Tăng bạch cầu ái toan Mất bạch cầu Giảm bạch cầu trung tính Mất bạch cầu Giảm bạch cầu trung tính Giảm tiểu cầu11 Giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ miễn dịch
  Phản ứng dị ứng11      
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Tăng cân1 Tăng nồng độ cholesterol2,3 Tăng nồng độ glucose4 Tăng nồng độ triglycerid2,5 Glucose niệu Tăng thèm ăn Tiến triển hoặc làm nặng thêm đái tháo đường, đôi khi kèm theo nhiễm toan ceton hoặc hôn mê, kể cả một số ca tử vong Giảm thân nhiệt12  
Rối loạn hệ thần kinh
Ngủ gà Chóng mặt Bồn chồn6 Hội chứng Parkinson6 Loạn vận động6 Động kinh ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc mang các yếu tố nguy cơ động kinh11 Loạn trương lực cơ (kể cả vận nhãn)11 Loạn vận động muộn11 Mất trí nhớ9 Chứng rối loạn ngôn ngữ Chứng nói lắp11 Hội chứng chân không nghỉ11 Hội chứng an thần kinh ác tính12 Hội chứng ngừng thuốc7,12  
Rối loạn ở tim
    Chậm nhịp tim Kéo dài khoảng QTc Nhịp nhanh thất/rung thất, đột tử11  
Rối loạn mạch
Tụt huyết áp tư thế đứng10   Thuyên tắc huyết khối (bao gồm thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu)    
Rối loạn hô hấp, vận mạch và trung thất
    Chảy máu cam9    
Rối loạn tiêu hóa
  Tác dụng kháng cholinergic nhẹ, thoáng qua, kể cả táo bón và khô miệng Chướng bụng9 Tăng tiết nước bọt9 Viêm tụy11  
Rối loạn gan-mật
  Tăng men gan (ALT, AST) thoáng qua không biểu hiện triệu chứng, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của đợt điều trị   Viêm gan (kể cả tắc mật hoặc tổn thương gan hỗn hợp)11  
Rối loạn da và mô mềm
  Phát ban Nhạy cảm với ánh sáng Rụng tóc   Hội chứng phát ban do thuốc với tăng bạch cầu ái toan và nhiều triệu chứng toàn thân (DRESS)
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
  Đau khớp9   Tiêu cơ vân11  
Rối loạn thận và tiết niệu
    Tiểu không tự chủ, bí tiểu Mót tiểu11    
Thời kỳ mang thai, sau sinh và khoảng thời gian sinh
        Hội chứng ngừng thuốc ở trẻ sơ sinh
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú
  Rồi loạn cương dương ở nam giới Giảm ham muốn tình dục ở nam và nữ Mất kinh Nở ngực Bệnh xuất huyết ở phụ nữ Sưng tuyến vú/phì đại tuyến vú ở nam giới Cương đau dương vật12  
Rối loạn toàn thân và phản ứng tại vị trí sử dụng
  Suy nhược Mệt mỏi Phù Sốt10      
Xét nghiệm
Tăng nồng độ prolactin trong huyết tương8 Tăng phosphate kiềm10 Tăng creatinin phosphokinase11 Tăng gamma glutamyltransferase10 Acid uric cao10 Tăng bilirubin toàn phần    
  • 1. Tình trạng tăng cân rõ rệt có ý nghĩa lâm sàng đã được ghi nhận ở tất cả các nhóm bệnh nhân có Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) khác nhau. Khi sử dụng ngắn ngày (trung bình 47 ngày), tỷ lệ tăng cân ≥ 7% rất hay gặp (22,2%), tăng cân ≥ 15% hay gặp (4,2%) và ≥ 25% ít gặp (0,8%). Bệnh nhân tăng cân ≥ 7%, ≥ 15% và ≥ 25% khi dùng thuốc dài ngày (tối thiểu 48 tuần) được ghi nhận với tần suất rất hay gặp (tỷ lệ lần lượt là 64,4%, 31,7% và 12,3%).
  • 2. Mức độ tăng trung bình trị số lipid lúc đói (cholesterol toàn phần, LDL cholesterol và triglycerid) ở nhóm bệnh nhân không có dấu hiệu rối loạn lipid cao hơn.
  • 3. Nồng độ cholesterol lúc đói từ mức cơ bản (< 5,17 mmol/I) tăng lên mức cao (≥ 6,2 mmol/I). Những thay đồi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói từ mức cơ bản (≥ 5,17 - < 6,2 mmol/l) lên mức cao (≥ 6,2 mmol/l) rất hay gặp.
  • 4. Nồng độ glucose lúc đói từ mức cơ bản (< 5,56 mmol/1) tăng lên mức cao (≥ 7 mmol/I). Những thay đổi nồng độ glucose lúc đói từ mức cơ bản (≥ 5,56 - < 7 mmol/l) lên mức cao (≥ 7 mmol/) rất hay gặp.
  • 5. Nồng độ triglycerid lúc đói từ mức cơ bản (<1,69 mmol/1) tăng lên mức cao (≥ 2,26 mmol/l). Những thay đổi nồng độ triglycerid lúc đói từ mức cơ bản (≥ 1,69 mmol/l - < 2,26 mmol/l) lên mức cao (≥ 2,26 mmol/I) rất hay gặp.
  • 6. Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ hội chứng Parkinson và loạn trương lực cơ ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin cao hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê so với ở bệnh nhân dùng giả dược. Bệnh nhân điều trị bằng olanzapin có tỷ lệ mắc hội chứng Parkinson, bồn chồn và loạn trương lực cơ thấp hơn khi sử dụng haloperidol. Do chưa có thông tin cụ thể về tiền sử của các rối loạn vận động ngoại tháp muộn và cấp tính ở từng bệnh nhân, hiện tại chưa thể kết luận rằng olanzapin ít gây ra hội chứng loạn vận động muộn và/hoặc các hội chứng ngoại tháp muộn khác.
  • 7. Các triệu chứng cấp tính như đổ mồ hôi, mất ngủ, run rẩy, lo lắng, buồn nôn và nôn đã được ghi nhận khi ngừng sử dụng olanzapin đột ngột.
  • 8. Trong các thử nghiệm lâm sàng kéo dài tới 12 tuần, nồng độ prolactin trong huyết tương tăng cao và vượt quá giới hạn trên thông thường ở khoảng 30% bệnh nhân điều trị bằng olanzapin có trị số prolactin cơ bản ở mức bình thường. Ở hầu hết bệnh nhân, mức độ tăng nồng độ prolactin thường nhẹ và thấp hơn 2 lần giới hạn trên thông thường.
  • 9. Tác dụng không mong muốn được xác định từ các thử nghiệm lâm sàng trong dữ liệu tích hợp olanzapin.
  • 10. Được đánh giá bằng giá trị đo được từ các thử nghiệm lâm sàng trong dữ liệu tích hợp olanzapin.
  • 11. Tác dụng không mong muốn được xác định từ báo cáo tự phát sau lưu hành với tần suất sử dụng dữ liệu tích hợp olanzapin.
  • 12. Tác dụng không mong muốn được xác định từ báo cáo tự phát sau lưu hành với tần suất được ước tính ở giới hạn trên của khoảng tin cậy 95% sử dụng dữ liệu tích hợp olanzapin.

Sử dụng thuốc kéo dài (tối thiểu 48 tuần)

  • Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc kéo dài gặp phản ứng bất lợi, có ý nghĩa lâm sàng như tăng cân, tăng nồng độ glucose, cholesterol toàn phần/LDL/HDL hoặc triglycerid tăng lên theo thời gian. Ở người trưởng thành đã hoàn tất đợt điều trị kéo dài 9 - 12 tháng, tốc độ tăng đường huyết trung bình chậm lại sau khoảng 6 tháng.

Thông tin bổ sung đổi với các nhóm bệnh nhân đặc biệt

  • Trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân cao tuổi bị mất trí, sử dụng olanzapin làm tăng tỷ lệ tử vong và biến cố bất lợi mạch vành so với dùng giả dược. Các phản ứng bất lợi rất hay gặp do sử dụng olanzapin ở nhóm bệnh nhân này là dáng đi bất thường và ngã quỵ. Viêm phổi, tăng thân nhiệt, hồng ban, ảo giác và đái dầm cũng đã được ghi nhận với tần suất hay gặp.
  • Trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân loạn thần do cảm ứng thuốc (chủ vận dopamin) có biểu hiện hội chứng Parkinson, tình trạng nặng thêm của triệu chứng Parkinson và ảo giác đã được ghi nhận với tần suất rất hay gặp và với tỷ lệ cao hơn so với dùng giả dược.
  • Trong một thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, sử dụng đồng thời valproat cùng với olanzapin gây giảm bạch cầu trung tính với tỷ lệ 4,1%. Một yếu tố nguy cơ gây ra tình trạng này là nồng độ cao của valproat trong huyết tương. Sử dụng olanzapin cùng với lithi và valproat làm tăng (≥ 10%) tỷ lệ run rẩy, khô miệng, tăng thèm ăn và tăng cân. Loạn vận ngôn nói cũng đã được ghi nhận với tần suất hay gặp. Trong quá trình điều trị bằng olanzapin kết hợp với lithi hoặc divalproex, tình trạng tăng thể trọng ≥ 7% so với trước khi dùng thuốc được ghi nhận ở 17,4% số bệnh nhân điều trị trong thời gian ngắn (tới 6 tuần). Điều trị kéo dài bằng olanzapin (tới 12 tháng) để dự phòng tái phát ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực làm tăng thể trọng ≥ 7% ghi nhận được ở 39,9% số bệnh nhân.

Trẻ em và thiếu niên

  • Olanzapin không được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân nhi và thiếu niên dưới 18 tuổi. Mặc dù chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được thiết kế để so sánh trực tiếp 2 nhóm bệnh nhân là thiếu niên và người lớn đã được tiến hành, dữ liệu từ các thử nghiệm trên thiếu niên được so sánh với dữ liệu từ các thử nghiệm trên người lớn.
  • Bảng sau đây tóm tắt các phản ứng bất lợi được ghi nhận ở thiếu niên (tuổi từ 13 - 17) với tần suất cao hơn so với ở người lớn hoặc các phản ứng bất lợi chỉ được ghi nhận trong các thử nghiệm ngắn hạn ở thiếu niên. Tình trạng tăng cân (≥ 7%) rõ rệt trên lâm sàng hay gặp hơn ở bệnh nhân thiếu niên so với ở người lớn khỉ mức độ phơi nhiễm thuốc là tương đương. Mức độ tăng cân và tỷ lệ bệnh nhân thiếu niên tăng cân rõ rệt trên lâm sàng khi dùng thuốc kéo dài (tối thiểu 24 tuần) cao hơn so với khi dùng thuốc ngắn ngày.
  • Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi được sắp xếp theo thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng. Tần suất được quy ước như sau: rất hay gặp (≥ 10%), hay gặp ( 1% và < 10%).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Rất hay gặp: tăng cân13, tăng nồng độ triglycerid14, tăng thèm ăn Hay gặp: tăng nồng độ cholesterol15
Rối loạn hệ thần kinh Rất hay gặp: an thần (ngủ lịm, hôn mê, ngủ gà)
Rối loạn tiêu hóa Hay gặp: khô miệng
Rối loạn gan mật Rất hay gặp: tăng transaminase gan (ALT/AST)
Xét nghiệm Rất hay gặp: giảm bilirubin toàn phần, tăng GGT, tăng nồng độ prolactin huyết tương16
  • 13. Sau đợt điều trị ngắn ngày (thời gian trung bình 22 ngày), mức độ tăng thể trọng (kg) > 7% rất hay gặp (40,6%), tăng ≥ 15% hay gặp (7,1%) và ≥ 5% hay gặp (2,5%). Khi điều trị dài ngày (tối thiểu 24 tuần), 89,4% bệnh nhân tăng thể trọng ≥ 7%, 55,3% tăng ≥ 15% và 29,1% tăng ≥ 25%.
  • 14. Nồng độ triglycerid lúc đói tăng từ mức cơ bản (< 1,016 mmol/I) lên cao (≥ 1,467 mmol/l) và tăng từ giới hạn thấp (1,016 mmol/l - < 1,467 mmol/l) lên cao (≥ 1,467 mmol/l).
  • 15. Nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói tăng từ mức cơ bản (4,39 mmol/l) lên cao (≥ 5,17 mmol/l) được ghi nhận với tần suất hay gặp. Thay đổi nồng độ cholesterol lúc đói từ mức giới hạn thấp (≥ 4,39 - <5,17 mmol/1) lên cao (≥ 5,17 mmol/1) rất hay gặp.
  • 16. Tăng nồng độ prolactin huyết tương đã được ghỉ nhận ở 47,4% bệnh nhân thiếu niên.

Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc được sỹ những phân ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc

Tương tác thuốc

  • Các nghiên cứu về tương tác thuốc mới chỉ được tiến hành trên đối tượng người lớn.

Các tương tác có thể ảnh hưởng đến olanzapin

  • Do olanzapin được chuyển hóa bởi CYPIA2 nên các chất gây cảm ứng hoặc ức chế isoemzym này có thể ảnh hưởng đến dược động học của olanzapin.

Cảm ứng CYP1A2

  • Quá trình chuyển hóa olanzapin có thể bị cảm ứng bởi hút thuốc lá hoặc sử dụng carbamazepin, kết quả là làm giảm nồng độ olanzapin. Chỉ quan sát thấy hiện tượng tăng nhẹ đến vừa độ thanh thải của olanzapin. Ảnh hưởng lâm sàng thường không đáng kể, tuy nhiên cần theo dõi tình trạng bệnh nhân và có thể cân nhắc tăng liều olanzapin nếu cần.

Ức chế CYP1A2

  • Fluvoxamin, một thuốc ức chế đặc trưng CYP1A2 đã được ghi nhận là ức chế rõ rệt chuyển hóa của olanzapin. Tỷ lệ tăng Cmax trung bình của olanzapin sau khi sử dụng fluvoxamin là 54% ở nữ giới không hút thuốc và 77% ở nam giới hút thuốc. Mức độ tăng AUC của olanzapin ở 2 nhóm đối tượng này là 52% và 108%. Nên cân nhắc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn cho bệnh nhân đang điều trị bằng fluvoxamin hoặc bất kỳ thuốc ức chế CYP1A2 nào khác như ciprofloxacin.
  • Cân nhắc giảm liều olanzapin khi bắt đầu sử dụng thêm thuốc ức chế CYP1A2.

Giảm sinh khả dụng

  • Than hoạt tính làm giảm sinh khả dụng của olanzapin dùng theo đường uống từ 50% đến 60% và do đó, cần uống than hoạt tính ít nhất 2 giờ trước hoặc sau khi sử dụng olanzapin.
  • Fluoxetin (một thuốc ức chế CYP2D6), liều đơn thuốc kháng acid (nhôm, magnesi) hoặc cimetidin không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của olanzapin.

Ảnh hưởng của olanzapin đến các thuốc khác

  • Olanzapin có thể đối kháng tác dụng của các thuốc chủ vận dopamin trực tiếp và gián tiếp.
  • Olanzapin không có hoat tính ức chế in vitro các isoenzym CYP450 chính (như 1A2, 2D6, 2C9, 2C19, 3A4). Vì vậy, chưa có tương tác cụ thể nào được khẳng định thông qua các thử nghiệm in vivo do chưa ghi nhận tác dụng ức chế của olanzapin đối với các thuốc sau: thuốc chống trầm cảm 3 vòng (chủ yếu chuyển hóa bởi CYP2D6), warfarin (CYP2C9), theophyllin (CYP1A2) hoặc diazepam (CYP3A4 và 2C19).
  • Olanzapin không gây tương tác khi sử dụng cùng với lithi hoặc biperiden.
  • Việc theo dõi nồng độ valproat trong huyết tương là cần thiết, tuy nhiên không cần hiệu chỉnh liều valproat khi sử dụng cùng với olanzapin.

Hoạt tính trên hệ thần kinh trung ương

  • Cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cho bệnh nhân uống rượu hoặc sử dụng các thuốc khác có thể gây ức chế thần kinh trung ương.
  • Không khuyến cáo sử dụng đồng thời olanzapin cùng với các thuốc điều trị Parkinson ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson và mất trí.

Khoảng QTc

  • Cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cùng với các thuốc có thể gây kéo dài khoảng QTc.

Quá liều và xử trí

Làm gì khi dùng quá liều?

Triệu chứng:

  • Các triệu chứng quá liều rất hay gặp (tần suất > 10%) bao gồm nhịp tim nhanh, kích động/hung hăng, loạn vận ngôn, các triệu chứng ngoại tháp khác nhau và giảm mức độ nhận thức từ an thần đến hôn mê.
  • Các triệu chứng rõ rệt khác khi xảy ra quá liều bao gồm mê sảng, lú lẫn, hôn mê, có thể xảy ra hội chứng an thần kinh ác tính, ức chế hô hấp, hít dịch, tăng huyết áp hoặc tụt huyết áp, loạn nhịp tim (tỷ lệ < 2% số ca quá liều) và ngừng tim. Những trường hợp tử vong đã được ghi nhận khi dùng mức liều thấp 450 mg nhưng các trường hợp sống sót sau quá liều cấp khi dùng liều tới khoảng 2 g olanzapin theo đường uống cũng đã được ghi nhận.

Cách xử trí:

  • Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu olanzapin. Khuyến cáo gây nôn. Có thể áp dụng các quy trình chuẩn để kiểm soát quá liều (như rửa dạ dày, sử dụng than hoạt). Uống đồng thời olanzapin cùng với than hoạt làm giảm sinh khả dụng của olanzapin theo đường uống từ 50 đến 60%.
  • Cần tiến hành điều trị triệu chứng và kiểm soát các chức năng sống theo triệu chứng lâm sàng như điều trị tụt huyết áp và trụy tuần hoàn cũng như hỗ trợ chức năng hô hấp. Không được sử dụng epinephrin, dopamin hoặc các thuốc giống giao cảm cùng với các thuốc chủ vận beta do các thuốc kích thích beta có thể làm nặng thêm tình trạng tụt huyết áp.
  • Cần giám sát chức năng tim mạch để phát hiện nguy cơ loạn nhịp tim. Phải tiếp tục theo dõi và giám sát bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân hồi phục hoàn toàn.

Làm gì khi quên 1 liều?

  • Nếu quên dùng một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định.

Bảo quản

  • Để thuốc nơi khô ráo, tránh ẩm, tránh ánh sáng.
  • Nhiệt độ không quá 30°C.
  • Để xa ngoài tầm tay trẻ em.

Lưu ý

Thận trọng khi sử dụng

  • Khi điều trị loạn thần, có thể phải mất vài ngày đến vài tuần tình trạng bệnh nhân trên lâm sàng mới được cải thiện. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ trong khi điều trị.
Loạn thần liên quan đến mất trí và/hoặc rối loạn hành vi:
  • Olanzapin không được phê duyệt để điều trị loạn thần liên quan đến mất trí và/hoặc rối loạn hành vi cũng như không được khuyến cáo sử dụng cho những bệnh nhân này do thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong và nguy cơ xảy ra tai biến mạch vành. Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (trong 6-12 tuần) trên bệnh nhân cao tuổi (trung bình 78 tuổi) bị loạn thần liên quan đến mất trí và/hoặc rối loạn hành vi, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân sử dụng olanzapin tăng gấp 2 lần so với ở nhóm dùng giả dược (tỷ lệ tử vong ở 2 nhóm lần lượt là 3,5% và 1,5%). Tỷ lệ tử vong cao không liên quan đến liều olanzapin (liều trung bình hàng ngày là 4,4mg) hay thời gian điều trị. Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân này bao gồm trên 65 tuổi, khó nuốt, an thần, kém dinh dưỡng và mất nước, các tình trạng ở phổi (như viêm phổi, có hoặc không kèm theo tình trạng hít dịch) hoặc sử dụng đồng thời các dẫn chất benzodiazepin.
  • Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ở nhóm điều trị bằng olanzapin cao hơn nhóm dùng giả dược không phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ này.
  • Cũng trong các thử nghiệm lâm sàng này, các biến cố bất lợi mạch vành (như đột quỵ, cơn thiếu máu cơ tim thoáng qua), kể cả tử vong đã được ghi nhận. Tỷ lệ biến cố bất lợi mạch vành ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng olanzapin cao gấp 3 lần ở nhóm dùng giả dược (với tỷ lệ lần lượt là 1,3% và 0,4%). Tất cả bệnh nhân sử dụng olanzapin và giả dược gặp biến cố bất lợi mạch vành đều mang các yếu tố nguy cơ. Tuổi trên 75 và mất trí do tổn thương mạch não/mất trí thể hỗn hợp đã được xác định là các yếu tố nguy cơ gây ra biến cố bất lợi mạch vành khi điều trị bằng olanzapin. Hiệu quả của olanzapin chưa được chứng minh trong các thử nghiệm này.
Bệnh Parkinson:
  • Việc sử dụng olanzapin trong điều trị loạn thần liên quan đến chủ vận dopamin ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson không được khuyến cáo. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các triệu chứng Parkinson trở nên nghiêm trọng hơn và tình trạng ảo giác được ghi nhận với tần suất rất hay gặp ở nhóm sử dụng olanzapin và cao hơn so với nhóm dùng giả dược, đồng thời kết quả thử nghiệm cũng cho thấy olanzapin không hiệu quả hơn giả dược trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Trong các thử nghiệm này, ban đầu bệnh phải được ổn định bằng liều thấp nhất của các thuốc điều trị Parkinson (thuốc chủ vận dopamin) và duy trì cùng liều các thuốc này trong suốt quá trình nghiên cứu. Olanzapin được bắt đầu sử dụng với liều 2,5 mg/ngày và dò liều lên tối đa 15 mg/ngày theo chỉ định của bác sĩ.
Hội chứng an thần kinh ác tính:
  • Hội chứng an thần kinh ác tính là tình trạng có thể gây nguy hiểm tính mạng bệnh nhân do sử dụng các thuốc chống loạn thần. Một số trường hợp an thần kinh ác tính hiếm gặp đã được ghi nhận khi sử dụng olanzapin. Các triệu chứng lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính bao gồm sốt cao, cứng cơ, thay đổi trạng thái tâm thần và dấu hiệu mất ổn định thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp bất thường, nhịp tim nhanh, đổ mồ hôi và loạn nhịp tim). Các dấu hiệu khác bao gồm tăng creatinin phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân) và suy thận cấp. Nếu ở bệnh nhân xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng an thần kinh ác tính hoặc biểu hiện sốt cao không rõ nguyên nhân mà không kèm theo các triệu chứng lâm sàng khác của hội chứng an thần kinh ác tính thì phải ngừng sử dụng tất cả các thuốc chống loạn thần như olanzapin.
Tăng đường huyết và đái tháo đường:
  • Tình trạng tăng đường huyết và/hoặc xuất hiện hoặc làm nặng thêm đái tháo đường, đôi khi kèm theo nhiễm toan ceton hoặc hôn mê đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp, kể cả một số ca tử vong. Ở một số trường hợp, tình trạng tăng cân đã được ghi nhận có thể là yếu tố nguy cơ gây tăng đường huyết và đái tháo đường.
  • Cần theo dõi bệnh nhân trên lâm sàng theo các hướng dẫn điều trị đối với thuốc chống loạn thần. Bệnh nhân được điều trị bằng bất kỳ thuốc loạn thần nào như Zolafren cần phải được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng tăng đường huyết (như khát nhiều, đa niệu, ăn nhiều, ốm yếu) còn các bệnh nhân đái tháo đường hoặc có các yếu tố nguy cơ đái tháo đường cần được theo dõi thường xuyên để kiểm soát đường huyết. Cân nặng của bệnh nhân cũng cần được theo dõi thường xuyên.
Thay đổi lipid:
  • Các thay đổi không mong muốn ở lipid đã được ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin trong các thừ nghiệm lâm sàng có đối chứng. Có thể điều trị tình trạng thay đổi lipid theo thực tế lâm sàng, đặc biệt là ở bệnh nhân bị rối loạn mỡ máu và bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tiến triển các rối loạn lipid. Bệnh nhân được điều trị bằng bất kỳ thuốc chống loạn thần nào như ZYPREXA cần được theo dõi thường xuyên tình trạng lipid theo các hướng dẫn điều trị thuốc chống loạn thần.
Hoạt tính kháng cholinergic:
  • Mặc dù olanzapin biểu hiện hoạt tính kháng cholinergic in vitro, dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng chỉ phát hiện thấy tỷ lệ thấp các biến cố bất lợi liên quan đến hoạt tính kháng cholinergic của thuốc. Tuy nhiên, do chưa có đủ kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng olanzapin cho bệnh nhân mắc các bệnh kèm theo khác, cần thận trọng khi kê đơn olanzapin cho bệnh nhân phì đại tiền liệt tuyến, liệt tắc ruột và các tình trạng liên quan.
Chức năng gan:
  • Tăng transaminase, ALT, AST không biểu hiện triệu chứng và thoáng qua đã được ghi nhận với tần suất hay gặp, đặc biệt ở giai đoạn sớm của đợt điều trị. Cần thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân tăng ALT và/hoặc AST, bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng suy gan, bệnh nhân mắc các tình trạng bệnh liên quan đến chức năng bù kém của gan và bệnh nhân đang được điều trị bằng các thuốc có khả năng gây độc gan. Khi phát hiện thấy tình trạng tăng ALT và/hoặc AST trong quá trình điều trị, cần theo dõi bệnh nhân và cân nhắc giảm liều. Trong trường hợp chẩn đoán bệnh nhân bị suy gan, cần ngừng sử dụng olanzapin.
Giảm bạch cầu trung tính:
  • Cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cho bệnh nhân có số lượng bạch cầu và/hoặc bạch cầu trung tính thấp bất kể nguyên nhân, bệnh nhân đang sử dụng các thuốc đã được xác định là gây giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân có tiền sử suy tủy xương hoặc nhiễm độc tủy xương do dùng thuốc, bệnh nhân suy tủy xương do bệnh kèm theo, do xạ trị hoặc hóa trị và bệnh nhân tăng bạch cầu ái toan hoặc mắc bệnh tăng sinh tủy xương. Tình trạng giảm bạch cầu trung tính đã được ghi nhận với tần suất hay gặp khi sử dụng đồng thời olanzapin và valproat.
Ngừng thuốc:
  • Các triệu chứng cấp tính như đổ mồ hôi, mất ngủ, run, lo lắng, buồn nôn và nôn đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp (<0,01%) khi ngừng sử dụng đột ngột olanzapin.
Khoảng QT:
  • Trong các thử nghiệm lâm sàng, tình trạng kéo dài khoảng QTc có ý nghĩa lâm sàng (QT hiệu chỉnh theo Fridericia [QTcF] ≥500mili giây (msec) tại bất kỳ thời điểm nào sau khi dùng thuốc ở bệnh nhân có trị số QTcF cơ bản <500msec) thường ít gặp (tần suất 0,1 đến 1%) ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin và không có sự khác biệt đáng kể về các biến cố ở tim khi so sánh giữa 2 nhóm sử dụng olanzapin và giả dược. Tuy nhiên, giống như khi sử dụng các thuốc chống loạn thần khác, cần thận trọng khi kê đơn olanzapin cùng với các thuốc đã được biết là gây kéo dài khoảng QTc, đặc biệt là cho bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân mắc hội chứng QT kéo dài bẩm sinh, suy tim sung huyết, phì đại tim, hạ kali huyết và hạ magnesi huyết.
Nghẽn mạch:
  • Các trường hợp nghẽn mạch đã được ghi nhận khi sử dụng thuốc chống loạn thần. Do bệnh nhân điều trị bằng thuốc chống loạn thần thường mang các yếu tố nguy cơ nên tất cả những nguy cơ có thể gây nghẽn mạch cần phải được xác định trước và trong quá trình điều trị bằng olanzapin, đồng thời cần áp dụng các biện pháp dự phòng.
Hoạt tính trên thần kinh trung ương:
  • Do olanzapin có tác dụng trên thần kinh trung ương, cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cùng với các thuốc tác dụng trung tâm khác và rượu. Do có hoạt tính đối kháng dopamin in vitro, olanzapin có thể đối kháng tác dụng chủ vận dopamin trực tiếp và gián tiếp.
Động kinh:
  • Cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cho bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc mang các yếu tố nguy cơ có thể làm giảm ngưỡng động kinh. Động kinh đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân đều được xác định là có tiền sử động kinh hoặc mang các yếu tố nguy cơ động kinh.
Loạn vận động muộn:
  • Trong các nghiên cứu so sánh trong thời gian 1 năm hoặc ngắn hơn, olanzapin làm giảm có ý nghĩa thống kê tỷ lệ xuất hiện loạn vận động. Tuy nhiên, nguy cơ loạn vận động muộn tăng lên khi thời gian điều trị kéo dài và vì vậy, nếu quan sát thấy các dấu hiệu và triệu chứng loạn vận động muộn ở bệnh nhân sử dụng olanzapin, nên cân nhắc giảm liều hoặc ngừng thuốc. Các triệu chứng này có thể tạm thời giảm nhẹ hoặc thậm chí xuất hiện sau khi ngừng thuốc.
Tụt huyết áp tư thế:
  • Tụt huyết áp tư thế thường không hay gặp ở bệnh nhân cao tuổi trong các thử nghiệm lâm sàng với olanzapin. Giống như khi sử dụng các thuốc chống loạn thần khác, cần định kỳ kiểm tra huyết áp của bệnh nhân trên 65 tuổi.
Đột tử do biến cố trên tim:
  • Trong các báo cáo hậu marketing, tỷ lệ đột tử do biến cố trên tim đã được ghi nhận ở những bệnh nhân điều trị bằng olanzapin. Trong một nghiên cứu thuần tập quan sát hồi cứu, tỷ lệ đột tử do biến cố trên tim ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin cao gấp khoảng 2 lần so với ở bệnh nhân không sử dụng thuốc chống loạn thần. Trong nghiên cứu này, nguy cơ gây đột tử của olanzapin tương tự như với các thuốc chống loạn thần không điển hình đã được đánh giá trong một phân tích gộp.
Sử dụng cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi:
  • Olanzapin không được chỉ định cho trẻ em và thiếu niên. Các nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhân từ 13-17 tuổi ghi nhận các phản ứng bất lợi khác nhau bao gồm tăng cân, thay đổi các thông số sinh hóa và tăng nồng độ prolactin. Kết quả theo dõi dài hạn các biến cố này chưa được nghiên cứu và hiện chưa rõ.
Lactose:
  • Thành phần viên nén có chứa lactose. Bệnh nhân mắc các bệnh di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu Lapp lactase hoặc kém chuyển hóa glucose-galactose không nên sử dụng thuốc này.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Thời kỳ mang thai:

  • Chưa tiến hành các nghiên cứu đầy đủ và có đối chứng trên phụ nữ mang thai. Cần yêu cầu bệnh nhân báo ngay cho bác sĩ biết khi phát hiện có thai hoặc dự định mang thai trong quá trình điều trị bằng olanzapin. Tuy nhiên, do chưa có đủ kinh nghiệm sử dụng trong thai kỳ, chỉ nên dùng olanzapin cho phụ nữ có thai nếu lợi ích thu được vượt hắn rủi ro đối với thai.
  • Các báo cáo tự phát với tần suất hiếm gặp đã ghi nhận tình trạng run rấy, tăng trương lực cơ, ngủ li bì và buồn ngủ ở những trẻ sơ sinh mà người mẹ đã sử dụng olanzapin trong 3 tháng cuối thai kỳ.

Thời kỳ cho con bú:

  • Trong một nghiên cứu trên người tình nguyện là phụ nữ cho con bú, olanzapin được tiết vào sữa. Tỷ lệ thuốc phơi nhiễm trung bình (mg/kg) của trẻ ở trạng thái ổn định được ước tính là 1,8% liều olanzapin sử dụng (mg/kg). Cần yêu cầu bệnh nhân không nên cho trẻ bú khi đang sử dụng olanzapin.

Khả năng sinh sản:

  • Ảnh hưởng trên khả năng sinh sản chưa được biết.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc

  • Chưa tiến hành nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Do olanzapin có thể gây ngủ gà và chóng mặt, bệnh nhân cần thận trọng khi vận hành máy móc hay phương tiện giao thông.
Nguyễn hân nguyên
Dược sĩ - Giám sát dịch vụ Dược

Nguyễn hân nguyên

check_circleĐã kiểm duyệt nội dung

Hơn 2 năm kinh nghiệm Dược sĩ Dược lâm sàng tại Bệnh viện Hoàn Mỹ và hơn 6 năm làm việc trong môi trường y tế quốc tế và bán lẻ dược phẩm tại Việt Nam. Sở hữu kiến thức chuyên môn vững vàng kèm tư duy nhạy bén về...

Xem chi tiết
calendar_todayNgày cập nhật: 12/09/2026
verifiedThương hiệu chính hãng
A

Adamed

Cam kết 100% sản phẩm chính hãng
Xem sản phẩm thương hiệu nàychevron_right
infoThuốc kê đơn (Không bán online)
chatTư vấn ngay
headset_mic
Tổng đài hỗ trợ tư vấn0901346379
Giờ làm việc: 7:30 - 21:30 (Cả CN & Ngày lễ)

Khách hàng đánh giá

0.0
star_outlinestar_outlinestar_outlinestar_outlinestar_outline
(0 đánh giá)
5 sao
0
4 sao
0
3 sao
0
2 sao
0
1 sao
0
Lọc theo:
star_border

Chưa có đánh giá nào cho sản phẩm này

Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận và đánh giá sản phẩm nhé!

Công Ty TNHH Nhà Thuốc Minh Châu

Trụ sở: 354 Nguyễn Văn Công, Phường Hạnh Thông, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0899391368 - Email: cskh@nhathuocminhchau.com

GCNDKDN: 0311770883 do sở KH & ĐT TP.HCM cấp lần đầu ngày 05/05/2012. 
GCNDDKKDD: 6782/DDKKDDD-ĐNai ngày cấp 26/4/2022 Sở Y Tế Tỉnh Đồng Nai.