

Mẫu mã sản phẩm có thể thay đổi theo lô hàng
Thuốc Pradaxa 150mg Boehringer trị huyết khối tĩnh mạch 30 viên
Sản phẩm bán theo đơn bác sĩ
Thông tin vận chuyển
Giao đến Đang định vị...
Giao hàng tiêu chuẩn
Giao nhanh tận nơi toàn quốc · Đổi trả miễn phí trong 7 ngày
Thông tin chi tiết
| Danh mục | Thuốc chống đông máu |
| Hoạt chất | Dabigatran |
| Quy cách | Hộp 3 vỉ x 10 viên |
| Nhà sản xuất | Boehringer Ingelheim |
| Số đăng ký | VN-17270-13 |
| Nước sản xuất | Đức |
| Dạng bào chế | Viên nang cứng |
| Hạn dùng | 36 tháng kể từ ngày sản xuất |
| Hàm lượng | 150 mg |
Mô tả chi tiết sản phẩm
Kích thước chữ
Thông tin chung
Pradaxa 150mg Boehringer chứa dabigatran etexilate 150 mg, thuộc nhóm thuốc chống đông đường uống, được sử dụng để phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch theo chỉ định.
Thành phần
| Hoạt chất chính | Hàm lượng |
|---|---|
| Dabigatran | 150 mg |
Chỉ định
Chỉ định chính của Pradaxa 150mg:
- Phòng ngừa tai biến thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) ở những bệnh nhân người trưởng thành trải qua phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối.
- Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ, như đã từng bị đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não (TIA), tuổi ≥ 75, suy tim (phân loại NYHA ≥ độ II); đái tháo đường; tăng huyết áp.
- Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan.
- Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó.
Chống chỉ định
- Quá mẫn với dabigatran hoặc dabigatran etexilat hoặc một trong các tá dược của thuốc.
- Suy thận nặng (CrCL < 30 mL/ phút).
- Các biểu hiện chảy máu, bệnh nhân có cơ địa chảy máu, hoặc bệnh nhân giảm đông máu do dùng thuốc hay tự phát.
- Sang thương hoặc các tình trạng được xem là có nguy cơ chảy máu nặng rõ rệt. Điều này có thể bao gồm loét dạ dày tá tràng hiện tại hoặc gần đây, sự xuất hiện của u ác tính có nguy cơ chảy máu cao, tổn thương cột sống hoặc não gần đây, phẫu thuật não, cột sống hoặc mắt gần đây, xuất huyết nội sọ gần đây, giãn tĩnh mạch thực quản đã biết hoặc nghi ngờ, dị dạng động tĩnh mạch, phình mạch máu, hoặc các bất thường nghiêm trọng mạch máu trong cột sống hoặc trong não.
- Điều trị đồng thời với ketoconazole toàn thân, cyclosporin, itraconazol và dronedaron.
- Điều trị đồng thời với các thuốc chống đông khác như heparin (UFH), các heparin trọng lượng phân tử thấp (như enoxaparin, dalteparin), các dẫn xuất heparin (như fondaparinux), thuốc chống đông đường uống (như warfarin, rivaroxaban, apixaban) ngoại trừ trong những trường hợp chuyển sang hoặc chuyển từ Pradaxa hoặc khi UFH được dùng ở những liều cần thiết để duy trì thông thương catheter động mạch hoặc tĩnh mạch trung tâm.
- Bệnh nhân đặt van tim nhân tạo cơ học.
- Chống chỉ định trong trường hợp suy gan hoặc mắc bệnh gan có ảnh hưởng đến tính mạng.
Liều lượng - Cách dùng
Cách dùng:
- Nên uống Pradaxa viên nang cứng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Nên uống Pradaxa cùng với một cốc nước giúp cho việc đưa thuốc vào dạ dày được dễ dàng. Nếu xuất hiện các triệu chứng đường tiêu hoá, khuyến cáo uống Pradaxa cùng với bữa ăn và/hoặc cùng với một thuốc ức chế bơm proton như pantoprazole.
- Không mở viên nang.
Liều dùng:
Người trưởng thành Phòng ngừa tai biến TTHKTM ở bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối- Phòng ngừa tai biến thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) sau phẫu thuật thay thế khớp gối: Nên bắt đầu điều trị với Pradaxa đường uống trong vòng 1 - 4 giờ sau khi phẫu thuật xong với một viên nang duy nhất (110 mg) sau đó tiếp tục uống 2 viên nang một lần mỗi ngày trong tổng cộng 10 ngày. Nếu việc cầm máu chưa được bảo đảm, nên trì hoãn khởi đầu điều trị. Nếu không bắt đầu dùng thuốc ngay trong ngày tiến hành phẫu thuật, nên bắt đầu điều trị sau đó với 2 viên nang, một lần mỗi ngày.
- Phòng ngừa tai biến thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) sau phẫu thuật thay khớp háng: Nên bắt đầu điều trị với Pradaxa đường uống trong vòng 1 - 4 giờ sau khi phẫu thuật xong với một viên nang duy nhất (110 mg) và sau đó tiếp tục với 2 viên nang một lần mỗi ngày trong tổng cộng là 28-35 ngày. Nếu việc cầm máu chưa được bảo đảm, nên trì hoãn khởi đầu điều trị. Nếu không bắt đầu dùng thuốc ngay trong ngày tiến hành phẫu thuật, nên bắt đầu điều trị sau đó với 2 viên nang, một lần mỗi ngày.
- Liều khuyến cáo dùng hàng ngày của Pradaxa là 300 mg, đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày. Điều trị trong thời gian dài.
- Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan: Liều khuyến cáo hàng ngày của Pradaxa là 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần một ngày sau khi điều trị với một thuốc chống đông đường tiêm trong ít nhất 5 ngày. Điều trị nên được tiếp tục cho đến 6 tháng.
- Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó: Liều khuyến cáo hàng ngày của Pradaxa là 300 mg, dùng đường uống với viên nang cứng 150mg hai lần mỗi ngày. Điều trị có thể kéo dài tuỳ thuộc vào nguy cơ của từng bệnh nhân.
- Pradaxa chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân < 18 tuổi. Không khuyến cáo điều trị Pradaxa ở trẻ em.
- Pradaxa chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân < 18 tuổi. Không khuyến cáo điều trị Pradaxa ở trẻ em.
- Chưa thiết lập được tính an toàn và hiệu quả ở trẻ em. Không khuyên các điều trị Pradaxa ở trẻ em.
- Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó
- Chưa thiết lập được tính an toàn và hiệu quả ở trẻ em. Không khuyến cáo điều trị Pradaxa ở trẻ em.
- Nên đánh giá chức năng thận bằng việc xác định độ thanh thải creatinine (crcL) trước khi bắt đầu điều trị với Pradaxa để tránh điều trị cho những bệnh nhân suy thận nặng (ví dụ crcl < 30 ml/phút). Chưa có dữ liệu hỗ trợ cho việc sử dụng thuốc ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinine dưới 30 ml/phút); không khuyến cáo điều trị Pradaxa ở nhóm bệnh nhân này (xem “chống chỉ định”).
- Trong khi đang điều trị, chức năng thận nên được đánh giá trong một số trường hợp trên lâm sàng khi nghi ngờ chức năng thận có thể suy giảm hoặc xấu đi (ví dụ giảm thể tích tuần hoàn, mất nước, và với một số thuốc dùng đồng thời, v.v.).
- Dabigatran có thể được thẩm phân: Có rất ít kinh nghiệm lâm sàng cho thấy sự có ích của phương pháp này trong các nghiên cứu lâm sàng.
- Nên giảm liều Pradaxa xuống còn 150 mg một lần mỗi ngày, dùng 2 viên nang 75 mg ở những bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinine 30 - 50 ml/phút).
- Nên bắt đầu điều trị với Pradaxa đường uống trong vòng 1 - 4 giờ sau khi phẫu thuật xong với một viên nang duy nhất 75 mg và sau đó tiếp tục uống 2 viên nang 75 mg trong tổng cộng 10 ngày (đối với phẫu thuật thay khớp gối) hoặc 28 - 35 ngày (đối với phẫu thuật thay khớp háng).
- Đối với cả hai trường hợp phẫu thuật trên, nếu việc cầm máu chưa được bảo đảm, nên trì hoãn khởi đầu điều trị. Nếu không bắt đầu dùng thuốc ngay trong ngày tiến hành phẫu thuật, nên bắt đầu điều trị sau đó với 2 viên nang mỗi ngày.
- Ở những bệnh nhân suy thận trung bình (crcl 30 - 50 ml/phút), chức năng thận nên được đánh giá ít nhất một năm một lần.
- Không cần thiết phải chỉnh liều, bệnh nhân nên điều trị với liều hàng ngày 300mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao, cân nhắc giảm liều Pradaxa xuống còn 220 mg bằng cách dùng 1 viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và mục “dược động học”). Khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng ở những bệnh nhân suy thận.
- Không cần thiết phải chỉnh liều ở những bệnh nhân suy thận CC crcl > 30 ml/phút. Bệnh nhân nên được sử dụng với liều hàng ngày 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao, cân nhắc giảm liều Pradaxa xuống còn 220 mg bằng cách dùng 1 viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và mục “dược động học”). Khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng ở những bệnh nhân suy thận.
- Ở những bệnh nhân suy thận trung bình (crcl 30 - 50 ml/phút), chức năng thận nên được đánh giá ít nhất một năm một lần. Không cần thiết phải chỉnh liều ở những bệnh nhân suy thận có crcl > 30 ml/phút. Bệnh nhân nên được sử dụng với liều hàng ngày 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao, cân nhắc giảm liều Pradaxa xuống còn 220 mg bằng cách dùng 1 viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và mục “dược động học"). Khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng ở những bệnh nhân suy thận.
- Kinh nghiệm lâm sàng và sử dụng thuốc cho bệnh nhân cao tuổi (> 75 tuổi) vẫn còn hạn chế. Nên thận trọng khi điều trị cho đối tượng bệnh nhân này. Liều khuyến cáo là 150 mg mỗi ngày dưới dạng 2 viên nang 75 mg (xem phần “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “đặc tính dược lý học").
- Do suy giảm chức năng thận có thể thường gặp hơn ở người cao tuổi (> 75 tuổi), nên đánh giá chức năng thận bằng việc xác định độ thanh thải creatine (crcL) trước khi bắt đầu điều trị với Pradaxa để tránh điều trị cho những bệnh nhân suy thận nặng (tức là crcl < 30 ml/phút). Chức năng thận cũng nên được đánh giá trong một số tình huống lâm sàng khi có nghi ngờ chức năng thận suy giảm hoặc xấu đi (ví dụ giảm thể tích tuần hoàn, mất nước và với một số thuốc dùng đồng thời, v.v.).
- Do suy giảm chức năng thận có thể thường gặp hơn ở người cao tuổi (> 75 tuổi), nên đánh giá chức năng thận bằng việc xác định độ thanh thải creatinine (crcl) trước khi bắt đầu điều trị với Pradaxa để tránh điều trị cho những bệnh nhân suy thận nặng (tức crcl < 30 ml/phút). Chức năng thận cũng nên được đánh giá ít nhất mỗi năm một lần ở bệnh nhân điều trị với Pradaxa hoặc thường xuyên hơn trong một số tình huống lâm sàng khi có nghi ngờ chức năng thận suy giảm hoặc xấu đi (ví dụ giảm thể tích tuần hoàn, mất nước và với một số thuốc dùng đồng thời, v.v.). Bệnh nhân từ 75 - 80 tuổi nên điều trị với liều hàng ngày 300 mg với 1 viên nang 150 mg hai lần mỗi ngày. Khi nguy cơ thuyên tắc do huyết khối thấp và nguy cơ chảy máu cao, có thể cân nhắc dùng liều 220 mg với 1 viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày tùy từng trường hợp theo chỉ định của bác sỹ (xem mục "cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Bệnh nhân 80 tuổi trở lên nên được điều trị với liều hàng ngày 220 mg dùng đường uống với viên nang cứng 110 mg hai lần mỗi ngày.
- Do suy giảm chức năng thận có thể thường gặp ở người cao tuổi (> 75 tuổi), nên đánh giá chức năng thận bằng việc xác định độ thanh thải creatinine (crcl) trước khi bắt đầu điều trị với Pradaxa để tránh điều trị cho những bệnh nhân suy thận nặng (tức crcl < 30 ml/phút). Chức năng thận cũng nên được đánh giá ít nhất mỗi năm một lần ở bệnh nhân điều trị với Pradaxa hoặc thường xuyên hơn trong một số tình huống lâm sàng khi có nghi ngờ chức năng thận suy giảm hoặc xấu đi (dự giảm thể tích tuần hoàn, mất nước và với một số thuốc dùng đồng thời, v.v..).
- Bệnh nhân từ 75 – 80 tuổi nên điều trị với liều hàng ngày 300 mg với 1 viên nang 150 mg hai lần mỗi ngày. Khi nguy cơ thuyên tắc do huyết khối thấp và nguy cơ chảy máu cao, có thể cân nhắc dùng liều 220 mg với 1 viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày tùy từng trường hợp theo chỉ định của bác sĩ (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Bệnh nhân 80 tuổi trở lên nên được điều trị với liều hàng ngày 220 mg dùng đường uống với viên nang cứng 110 mg hai lần mỗi ngày.
- Bệnh nhân có men gan cao > 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) được loại trừ trong thử nghiệm lâm sàng phòng ngừa tai biến TTHKTM (VTE) ở bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế khớp háng hoặc khớp gối. Không có kinh nghiệm điều trị trên nhóm bệnh nhân này, do đó không khuyến cáo sử dụng Pradaxa (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “dược động học”). Chống chỉ định trong trường hợp suy gan hoặc mắc bệnh gan có ảnh hưởng đến tính mạng (xem mục “chống chỉ định”).
- Bệnh nhân có men gan cao > 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) đã được loại trừ trong các thử nghiệm lâm sàng chính. Không có kinh nghiệm điều trị trên nhóm bệnh nhân này, do đó không khuyến cáo sử dụng Pradaxa (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “dược động học”). Chống chỉ định trong trường hợp suy gan hoặc mắc bệnh gan có ảnh hưởng đến tính mạng (xem mục “chống chỉ định”).
- Bệnh nhân có men gan cao > 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) đã được loại trừ trong các thử nghiệm lâm sàng chính, không có kinh nghiệm điều trị trên nhóm bệnh nhân này, do đó không khuyến cáo sử dụng Pradaxa (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “dược động học"). Chống chỉ định trong trường hợp suy gan hoặc mắc bệnh gan có ảnh hưởng đến tính mạng (xem mục “chống chỉ định”).
- Kinh nghiệm lâm sàng điều trị ở những bệnh nhân cân nặng < 50 kg hoặc > 110 kg còn rất hạn chế.
- Không cần thiết phải điều chỉnh liều dựa trên dữ liệu lâm sàng và dữ liệu động học sẵn có (xem mục “dược động học"), nhưng khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng).
- Không cần thiết phải điều chỉnh liều dựa trên dữ liệu lâm sàng và dữ liệu động học sẵn có (xem mục “dược động học”), nhưng khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng ở đối tượng bệnh nhân có cân nặng < 50kg (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Không cần thiết phải điều chỉnh liều dựa trên dữ liệu lâm sàng và dữ liệu động học sẵn có (xem mục “dược động học”), nhưng khuyến cáo theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng ở đối tượng bệnh nhân có cân nặng < 50kg (xem mục “cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Nên giảm liều Pradaxa còn 150 mg dùng một lần mỗi ngày với 2 viên nang 75 mg ở những bệnh nhân dùng đồng thời Pradaxa và amiodarone, quinidine hoặc verapamil (xem “tương tác thuốc”).
- Nên tránh việc bắt đầu điều trị với verapamil ở những bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối mà đang sử dụng Pradaxa. Cũng nên tránh việc bắt đầu điều trị đồng thời Pradaxa với verapamil.
- Nên bắt đầu điều trị với Pradaxa đường uống trong vòng 1 - 4 giờ sau khi phẫu thuật xong với một viên nang duy nhất 75 mg và sau đó tiếp tục uống 2 viên nang 75 mg trong tổng cộng 10 ngày (đối với phẫu thuật thay khớp gối) hoặc 28 - 35 ngày (đối với phẫu thuật thay khớp háng).
- Đối với cả hai trường hợp phẫu thuật trên, nếu việc cầm máu chưa được bảo đảm, nên trì hoãn khởi đầu điều trị. Nếu không bắt đầu dùng thuốc ngay trong ngày tiến hành phẫu thuật, nên bắt đầu điều trị sau đó với 2 viên nang mỗi ngày.
- Không cần thiết phải chỉnh liều, bệnh nhân nên điều trị với liều hàng ngày 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Không cần thiết phải chỉnh liều, bệnh nhân nên được sử dụng với liều hàng ngày 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Không cần thiết phải chỉnh liều, bệnh nhân nên được sử dụng với liều hàng ngày 300 mg dùng đường uống với viên nang cứng 150 mg hai lần mỗi ngày.
- Sự xuất hiện của các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ chảy máu: Ví dụ tuổi ≥ 75, suy thận trung bình (crcl 30 - 50 ml/phút), điều trị đồng thời với các chất ức chế P - gp mạnh (xem “nhóm bệnh nhân đặc biệt”), chất chống kết tập tiểu cầu hoặc chảy máu dạ dày - ruột trước đó (xem “cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Đối với những bệnh nhân có một hoặc nhiều hơn một trong các yếu tố nguy cơ đó, giảm liều hàng ngày còn 220 mg, bằng cách uống 110 mg hai lần mỗi ngày, có thể được cân nhắc theo quyết định của bác sỹ.
- Sự xuất hiện của các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ chảy máu: Ví dụ tuổi ≥75, suy thận trung bình (crcl 30 - 50 ml/phút), hoặc có tiền sử chảy máu dạ dày - ruột (xem “thận trọng đặc biệt và cảnh báo”). Không cần thiết phải chỉnh liều ở bệnh nhân có một yếu tố nguy cơ.
- Dữ liệu lâm sàng còn hạn chế ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ.
- Ở nhóm bệnh nhân này, chỉ nên sử dụng Pradaxa khi lợi ích mong đợi vượt trội các nguy cơ chảy máu.
- Sự xuất hiện của các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ chảy máu: Ví dụ tuổi ≥ 75, suy thận trung bình (crcl 30 - 50 ml/phút), hoặc có tiền sử chảy máu dạ dày - ruột (xem “thận trọng đặc biệt và cảnh báo”). Không cần thiết phải chỉnh liều ở bệnh nhân có một yếu tố nguy cơ.
- Dữ liệu lâm sàng còn hạn chế ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ.
- Ở nhóm bệnh nhân này, chỉ nên sử dụng Pradaxa khi lợi ích mong đợi vượt trội các nguy cơ chảy máu.
- Chờ 24 giờ sau liều cuối cùng trước khi chuyển từ điều trị với Pradaxa sang một thuốc chống đông dạng tiêm.
- Chờ 12 giờ sau liều cuối cùng trước khi chuyển từ điều trị với Pradaxa sang một thuốc chống đông dạng tiêm.
- Chờ 12 giờ sau liều cuối cùng trước khi chuyển từ điều trị với Pradaxa sang một thuốc chống đông dạng tiêm.
- Chờ 12 giờ sau liều cuối cùng trước khi chuyển từ điều trị với Pradaxa sang một thuốc chống đông dạng tiêm.
- Nên dùng Pradaxa 0 - 2 giờ trước khi đến lúc dùng liều tiếp theo của trị liệu cách quãng, hoặc tại thời điểm ngưng dùng thuốc trong trường hợp trị liệu liên tục (ví dụ heparin đường tĩnh mạch).
- Nên dừng việc điều trị với chất đối kháng Vitamin K (viết tắt VKA) Pradaxa có thể được dùng ngay khi INR < 2,0.
- Nên dừng việc điều trị với chất đối kháng Vitamin K. Pradaxa có thể được dùng ngay khi INR < 2,0.
- Nên dừng việc điều trị với chất đối kháng Vitamin K. Pradaxa có thể được dùng ngay khi INR < 2,0.
- Thời điểm bắt đầu điều trị VKA nên được điều chỉnh theo độ thanh thải crcl của bệnh nhân như sau:
- Crcl ≥ 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 3 ngày trước khi ngừng sử dụng dabigatran etexilat.
- Crcl ≥ 30 - < 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 2 ngày trước khi ngừng sử dụng dabigatran etexilat.
- Thời điểm bắt đầu điều trị VKA nên được điều chỉnh theo độ thanh thải crcl của bệnh nhân như sau:
- Crcl ≥ 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 3 ngày trước khi ngưng sử dụng dabigatran etexilat.
- Crcl ≥ 30 - < 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 2 ngày trước khi ngừng sử dụng dabigatran etexilat.
- Thời điểm bắt đầu điều trị VKA nên được điều chỉnh theo độ thanh thải CrCL của bệnh nhân như sau:
-
- Crcl ≥ 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 3 ngày trước khi ngừng sử dụng dabigatran etexilat.
- Crcl ≥ 30 - < 50 ml/phút, bắt đầu dùng VKA 2 ngày trước khi ngưng sử dụng dabigatran etexilat.
- Bệnh nhân có thể tiếp tục dùng Pradaxa trong khi đang được chuyển nhịp.
Tác dụng phụ
Các tác dụng phụ được xác định từ:
- Phòng ngừa tiên phát tai biến TTHKTM sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối.
- Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF) .
- Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan.
- Giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó.
- Rối loạn hệ máu và bạch huyết: Thiếu máu, giảm tiểu cầu.
- Rối loạn hệ miễn dịch: Quá mẫn với thuốc bao gồm mày đay, phát ban và ngứa, co thắt phế quản, phủ mạch, phản ứng phản vệ.
- Rối loạn hệ thần kinh: Xuất huyết nội sọ.
- Rối loạn mạch: Máu tụ, chảy máu.
- Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: Chảy máu mũi, ho ra máu.
- Rối loạn dạ dày ruột: Xuất huyết tiêu hóa, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, buồn nôn, loét dạ dày kể cả loét thực quản, viêm thực quản dạ dày, trào ngược thực quản dạ dày, nôn, khó nuốt.
- Rối loạn gan mật: Bất thường chức năng gan.
- Rối loạn da và mô dưới da: Xuất huyết da.
- Rối loạn xương, cơ xương khớp và mô liên kết: Tụ máu khớp.
- Rối loạn toàn thân và tiết niệu: Xuất huyết niệu sinh dục.
- Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: Xuất huyết nơi tiêm, xuất huyết tại vị trí đặt catheter.
- Tổn thương, ngộ độc hoặc những biến chứng sau thủ thuật: Chảy máu do chấn thương, chảy máu tại vết rạch.
- Rối loạn mạch máu: Chảy máu tại vết thương.
- Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: Tiết dịch có màu.
- Tổn thương, ngộ độc hoặc những biến chứng sau thủ thuật: Khối máu tụ sau thủ thuật, chảy máu sau thủ thuật, thiếu máu hậu phẫu, tiết dịch sau thủ thuật, vết thương tiết dịch.
- Các thủ thuật nội khoa và ngoại khoa: Dẫn lưu vết thương, dẫn lưu hậu phẫu.
- Không có.
- Không có.
- Không có.
- Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Tương tác thuốc
- Sử dụng đồng thời Pradaxa với các thuốc tác động lên sự cầm máu hoặc đông máu bao gồm các chất đối kháng Vitamin K có thể làm tăng đáng kể nguy cơ chảy máu. (xem “Cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
- Dabigatran etexilat và dabigatran không bị chuyển hóa bởi hệ thống cytochrome P450 và không có tác động trên hệ enzyme cytochrome P450 của người in vitro. Do đó các tương tác thuốc - thuốc liên quan khó có khả năng xảy ra với dabigatran etexilat hoặc dabigatran (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Thuốc chống đông máu và thuốc kháng tiểu cầu kết tập
- Không có hoặc chỉ giới hạn kinh nghiệm với các phương pháp điều trị sau đây có thể làm tăng nguy cơ chảy máu khi dùng đồng thời với Pradaxa: thuốc chống đông máu như heparin không phân đoạn (UFH), heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH), và các dẫn xuất heparin (fondaparinux, desirudin), các thuốc tiêu huyết khối và thuốc đối kháng vitamin K, rivaroxaban hoặc thuốc chống đông đường uống khác, và các thuốc kháng kết tập tiểu cầu như các thuốc kháng receptor GPIIb/llla, ticlopidine, prasugrel, ticagrelor, dextran, và sulfinpyrazone.
- Từ các dữ liệu thu thập hạn chế trong nghiên cứu giai đoạn III RE LY ở bệnh nhân rung nhĩ, đã quan sát thấy việc sử dụng đồng thời với thuốc chống đông đường uống hoặc đường tiêm khác làm tỷ lệ chảy máu nghiêm trọng ở cả nhóm điều trị với dabigatran etexilat và warfarin xấp xỉ khoảng 2,5 lần, chủ yếu liên quan đến tình huống khi chuyển đổi từ một thuốc chống đông máu này sang thuốc khác.
- Heparin không phân đoạn (UFH) có thể được sử dụng ở những liều cần thiết để duy trì một catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc động mạch.
- Clopidogrel và ASA: từ các dữ liệu thu thập được trong nghiên cứu pha III RE-LY, đã quan sát thấy tỷ lệ chảy máu nghiêm trọng tăng xấp xỉ 2 lần khi sử dụng đồng thời với thuốc kháng kết tập tiểu cầu, ASA hoặc clopidogrel ở cả hai nhóm dabigatran etexilat và warfarin.
- Clopidogrel: Trong một nghiên cứu pha I ở nam giới tình nguyện khỏe mạnh, việc sử dụng đồng thời dabigatran etexilat và clopidogrel không làm kéo dài thêm thời gian chảy máu mao mạch (capillary bleeding time) so với đơn trị liệu clopidogrel. Thêm vào đó, AUCt,ss và Cmax,ss của dabigatran và các xét nghiệm đông máu để đánh giá tác dụng của dabigatran như aPTT, ECT, hoặc TT (kháng Flla) hay xét nghiệm đánh giá khả năng ức chế kết tập tiểu cầu (IPA) của clopidogrel về cơ bản là không thay đổi khi điều trị kết hợp so với các đơn trị liệu tương ứng. Với một liều nạp clopidogrel lên tới 300 hoặc 600 mg, AUCt,ss và Cmax,ss của dabigatran tăng khoảng 1,3 đến 1,4 lần (+ 30 tới 40%). (xem các mục ở dưới về ASA).
- ASA: Tác động của việc dùng đồng thời dabigatran etexilat và acid acetylsalicylic (ASA) về nguy cơ xuất huyết đã được nghiên cứu trên những bệnh nhân rung nhĩ trong một nghiên cứu pha II trong đó việc sử dụng ASA ngẫu nhiên được áp dụng. Căn cứ vào phân tích hồi qui logistic, việc sử dụng ASA cùng với dabigatran etexilat 150 mg hai lần mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ gây chảy máu từ 12% đến 18% và 24% tương ứng khi dùng liều 81 mg và 325 mg ASA.
- NSAIDs: Sử dụng NSAID để giảm đau trong thời gian ngắn trước hoặc sau phẫu thuật không làm tăng nguy cơ chảy máu khi điều trị kết hợp với dabigatran etexilat. Khi sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu RE-LY, NSAIDs làm tăng nguy cơ chảy máu xấp xỉ khoảng 50% ở cả hai nhóm dùng dabigatran etexilat và warfarin. Do vậy, vì có nguy cơ chảy máu, đáng chú ý với các NSAID có thời gian bán thải >12 giờ, khuyến cáo theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu chảy máu.
- Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH): Việc sử dụng đồng thời các LMWH, như enoxaparin và dabigatran etexilat chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Sau khi chuyển từ 3 ngày điều trị mỗi ngày một lần 40 mg enoxaparin tiêm dưới da, ở thời điểm 24 giờ sau liều cuối cùng của enoxaparin thì nồng độ theo thời gian của dabigatran hơi thấp hơn so với sau khi dùng dabigatran etexilat một mình (liều đơn 220 mg). Hoạt tính kháng yếu tố FXa/Flla cao hơn được quan sát thấy sau khi dùng dabigatran etexilat có điều trị trước đó bằng enoxaparin so với sau khi điều trị dabigatran etexilat một mình. Điều này được xem xét do ảnh hưởng của việc điều trị với enoxaparin, và xem như không có liên quan về mặt lâm sàng. Các test chống đông máu khác liên quan đến dabigatran không bị thay đổi đáng kể bởi việc điều trị trước đó với enoxaparin.
- Dabigatran etexilat là một cơ chất cho chất vận chuyển xuất bào P-gp. Sử dụng đồng thời các chất ức chế P-gp (như amiodarone, verapamil, quinidine, ketoconazole toàn thân, dronedarone, ticagrelor và clarithromycine) có thể làm tăng nồng độ dabigatran trong huyết tương.
- Chống chỉ định sử dụng đồng thời với ketoconazole toàn thân.
- Về việc sử dụng đồng thời với các chất ức chế P-gp và liều lượng của Pradaxa trong chỉ định này xin xem “Liều lượng và cách dùng” và “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”.
- Đối với các chất ức chế P-gp khác được liệt kê ở trên không cần chỉnh liều Pradaxa trong chỉ định này.
- Đối với các chất ức chế P-gp được liệt kê ở trên không cần chỉnh liều Pradaxa trong chỉ định này.
- Đối với các chất ức chế P-gp được liệt kê ở trên không cần chỉnh liều Pradaxa trong chỉ định này.
- Nồng độ dabigatran ở người tình nguyện khỏe mạnh tăng lên khoảng 1,6 lần (+60%) khi có sự xuất hiện của amiodarone (xem Nhóm bệnh nhân đặc biệt).
- Ở những bệnh nhân trong nghiên cứu RE-LY nồng độ này tăng không quá 14% và không quan sát thấy tăng nguy cơ chảy máu.
- Verapamil: Khi dùng Pradaxa (150 mg) cùng với verapamil đường uống, Cmax và AUC của dabigatran được tăng lên nhưng mức độ thay đổi này là khác nhau, phụ thuộc vào thời gian dùng thuốc và dạng chế phẩm của verapamil (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Ở những bệnh nhân trong nghiên cứu RE-LY nồng độ này tăng không quá 21% và không quan sát thấy tăng nguy cơ chảy máu.
- Quinidine: Nồng độ dabigatran ở người tình nguyện khỏe mạnh tăng lên khoảng 1,5 lần (+53%) khi có sự xuất hiện của quinidine (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Clarithromycin: Nồng độ dabigatran ở người tình nguyện khỏe mạnh tăng lên khoảng 19% khi có clarithromycin mà không có bất cứ vấn đề an toàn nào trên lâm sàng (xem “nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Ketoconazole: Nồng độ dabigatran tăng lên khoảng 2,5 lần (+150%) sau khi dùng đơn liều và đa liều của ketoconazole toàn thân (xem “Chống chỉ định” và “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Dronedarone: Nồng độ dabigatran tăng lên 2,1 lần (+114%) hoặc 2,4 lần (+136%) tương ứng sau khi dùng đơn liều hoặc đa liều dronedarone (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Ticagrelor: Khi dùng đồng thời liều đơn dabigatran etexilat 75 mg với một liều nạp ticagrelor 180 mg, AUC và Cmax của dabigatran tương ứng tăng 1,73 lần và 1,95 lần (tăng 73% và 95%). Sau khi dùng đa liều ticagrelor 90 mg hai lần một ngày, mức tăng AUC và Cmax của dabigatran ít hơn, tương ứng còn 1,56 lần và 1,46 lần (tăng 56% và 46%).
- Sử dụng đồng thời một liều nạp 180 mg ticagrelor và 110 mg dabigatran etexilat (ở trạng thái ổn định) gây tăng AUCt,ss và Cmax,ss của dabigatran tương ứng là 1,49 lần và 1,65 (+49% và 65%) so với dabigatran etexilat khi dùng một mình. Khi dùng một liều nạp 180 mg ticagrelor 2 giờ sau khi dùng dabigatran etexilat (ở trạng thái ổn định), gia tăng AUCt,ss và Cmax,ss của dabigatran tương ứng giảm xuống còn 1,27 lần và 1,23 lần (+27% và 23%) so với dabigatran etexilat khi dùng một mình. Sử dụng đồng thời một liều ticagrelor 90 mg hai lần một ngày (liều duy trì) với 110 mg dabigatran etexilat gây tăng tương ứng AUCt,ss và Cmax,ss đã được hiệu chỉnh là 1,26 và 1,29 lần so với dabigatran etexilat khi dùng một mình.
- Digoxin: Trong một nghiên cứu được tiến hành trên 24 người khỏe mạnh, khi sử dụng Pradaxa cùng với digoxin, đã quan sát thấy không có sự thay đổi digoxin và không có những thay đổi liên quan đến lâm sàng về nồng độ dabigatran (xem“Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- SSRIs và SNRIs làm tăng nguy cơ chảy máu trong tất cả các nhóm điều trị trong nghiên cứu RE-LY.
- Pantoprazole: Khi dabigatran được sử dụng cùng với pantoprazole, đã quan sát thấy giảm diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian trong huyết tương của dabigatran khoảng 30%. Pantoprazole và các chất ức chế bơm proton (PPI) được sử dụng cùng với dabigatran etexilat trong các nghiên cứu lâm sàng và điều trị đồng thời với PPI dường như không làm giảm hiệu quả của Pradaxa.
- Ranitidine: Sử dụng ranitidine cùng với Pradaxa không gây ảnh hưởng liên quan trên lâm sàng tới mức độ hấp thu của dabigatran.
- Sau 7 ngày điều trị với 600 mg rifampicin ngày 1 lần cả AUC0-∞ và Cmax của dabigatran lần lượt giảm 67% và 66% so với điều trị tham chiếu.
- Sử dụng đồng thời với các thuốc cảm ứng P-gp (ví dụ rifampicin) làm giảm nồng độ dabigatran và nên tránh (xem “Cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
Quá liều và xử trí
Làm gì khi dùng quá liều?
- Quá liều khi dùng Pradaxa có thể dẫn đến các biến chứng chảy máu do đặc tính dược lực học của thuốc. Dùng liều cao hơn các liều được khuyến cáo làm tăng nguy cơ chảy máu.
- Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, xét nghiệm đông máu có thể giúp xác định nguy cơ chảy máu (xem phần “Thận trọng đặc biệt và Cảnh báo” và “Đặc tính Dược lý học”). Kiểm tra định lượng hiệu chuẩn (dTT) hoặc phương pháp đo dTT lặp lại cho phép dự đoán thời gian khi nào sẽ đạt đến các nồng độ dabigatran (xem phần "Đặc tính Dược lý học"), cũng như trong trường hợp dùng các biện pháp bổ sung ví dụ như lọc mán đã được bắt đầu.
- Có thể phải ngừng sử dụng Pradaxa khi có tác dụng chống đông máu quá mức.
- Khi có các biến chứng chảy máu, phải ngừng điều trị và xác định vị trí chảy máu. Do dabigatran được thải trừ chủ yếu qua thận, cần duy trì lượng nước tiểu thích hợp.
- Tuỳ vào từng tình huống lâm sàng nên tiến hành các biện pháp điều trị chuẩn thích hợp, như phẫu thuật cầm máu và bồi hoàn lượng máu mất.
- Đối với tình huống yêu cầu cần loại bỏ nhanh tác dụng của thuốc, cần có sẵn thuốc giải độc đặc hiệu (PRAXBIND, idarucizumab) đối kháng với hoạt tính dược lực học của Pradaxa. (Xem “Cảnh báo đặc biệt và thận trọng”; “Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp”; “Giai đoạn trước khi phẫu thuật”).
- Ngoài ra, có thể cân nhắc việc sử dụng máu tươi toàn phần hoặc huyết tương tươi đông lạnh.
- Các chế phẩm đậm đặc chứa các yếu tố đông máu (hoạt hoá hoặc không hoạt hoá) hoặc yếu tố VIIa tái tổ hợp nên được sử dụng cùng nhau. Có một vài bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ cho vai trò của các yếu tố này trong việc đảo ngược hiệu quả chống đông của dabigatran nhưng sự hữu ích của chúng trên lâm sàng chưa được chứng minh một cách có hệ thống. Kiểm tra đông máu có thể trở nên không tin cậy sau khi dùng các thuốc đảo ngược được gợi ý. Nên thận trọng đối với việc truyền tiểu cầu đậm đặc trong trường hợp có thiếu tiểu cầu hoặc đã sử dụng các thuốc kháng tiểu cầu có hoạt tính kéo dài. Tất cả điều trị triệu chứng được đưa ra theo quyết định của bác sĩ.
- Do liên kết với protein thấp, dabigatran có thể được thẩm phân, tuy nhiên các kinh nghiệm lâm sàng về việc dùng biện pháp lọc máu trong trường hợp này còn hạn chế (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
Làm gì khi quên 1 liều?
Phòng ngừa tai biến TTHKTM ở bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối- Tiếp tục với các liều dùng hàng ngày còn lại tại cùng thời điểm của ngày tiếp theo. Không được dùng liều gấp đôi để bù vào các liều riêng lẻ bị quên.
- Liều bị quên của Pradaxa có thể được dùng nếu thời gian tới khi phải dùng liều tiếp theo là hơn 6 giờ. Nên bỏ qua liều bị quên nếu khoảng thời gian trước khi phải dùng liều tiếp theo không quá 6 giờ. Không được dùng liều gấp đôi để bù vào các liều riêng lẻ bị quên.
- Liều bị quên của Pradaxa có thể được dùng nếu thời gian tới khi phải dùng liều tiếp theo là hơn 6 giờ. Nên bỏ qua liều bị quên nếu khoảng thời gian trước khi phải dùng liều tiếp theo không quá 6 giờ. Không được dùng liều gấp đôi để bù vào các liều riêng lẻ bị quên.
- Liều bị quên của Pradaxa có thể được dùng nếu thời gian tới khi phải dùng liều tiếp theo là hơn 6 giờ. Nên bỏ qua liều bị quên nếu khoảng thời gian trước khi phải dùng liều tiếp theo không quá 6 giờ. Không được dùng liều gấp đôi để bù vào các liều riêng lẻ bị quên
Bảo quản
- Để thuốc nơi khô ráo, tránh ẩm, tránh ánh sáng.
- Nhiệt độ không quá 30°C.
- Để xa ngoài tầm tay trẻ em.
Lưu ý
Thận trọng khi sử dụng
Suy gan:
Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF):
* để biết thêm chi tiết xem bảng 15 “Dược động học”
- Bệnh nhân có men gan cao > 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) đã được loại trừ trong thử nghiệm lâm sàng chính. Chưa có kinh nghiệm điều trị ở nhóm bệnh nhân này, do đó không khuyến cáo sử dụng Pradaxa trên nhóm đối tượng suy gan.
- Giống như các thuốc chống đông khác, nên sử dụng Pradaxa thận trọng trong các trường hợp có tăng nguy cơ gây chảy máu và trong tình huống có sử dụng đồng thời các thuốc có ảnh hưởng đến sự cầm máu bằng cách ức chế kết tập tiểu cầu. Chảy máu có thể xuất hiện tại bất cứ vị trí nào trong quá trình điều trị với Pradaxa. Nên tìm kiếm nơi chảy máu nếu hemoglobin và/hoặc hematocrit hoặc huyết áp giảm mà không giải thích được nguyên nhân.
- Đối với tình trạng đe doạ tính mạng hoặc chảy máu không kiểm soát được, khi có yêu cầu phải loại bỏ nhanh tác dụng chống đông máu của dabigatran, cần có sẵn tác nhân đặc hiệu (PRAXBIND, idarucizumab) để loại bỏ tác dụng của Pradaxa (xem “Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp”, “giai đoạn trước khi phẫu thuật” và “Quá liều”).
- Điều trị với Pradaxa không yêu cầu theo dõi chống đông máu thường quy.
- Tuy nhiên, việc theo dõi hoạt tính chống đông máu của dabigatran có thể hữu ích để tránh hấp thu quá mức dabigatran khi có nhiều yếu tố nguy cơ.
- Xét nghiệm INR không tin cậy ở những bệnh nhân đang điều trị với Pradaxa và đã có báo cáo về tăng INR dương tính giả. Do vậy, không nên tiến hành xét nghiệm INR.
- Thời gian pha loãng thrombin (dTT), thời gian đông máu ecarin (ECT) và thời gian thromboplastin từng phần hoạt hoá (aPTT) có thể cung cấp thông tin hữu ích, nhưng các xét nghiệm này chưa được tiêu chuẩn hoá và các kết quả cần được diễn giải một cách thận trọng (xem mục “Đặc tính dược lý học”).
- Bảng 1 chỉ ra ngưỡng các xét nghiệm đông máu giá trị đáy có liên quan đến tăng nguy cơ chảy máu (xem mục “Đặc tính dược lý học”).
| Xét nghiệm (giá trị đáy) | Chỉ định | |
| Phòng ngừa tai biến TTHKTM ở bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối | Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF). Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan. Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó | |
| dTT [ng/mL] | > 67 | > 200 |
| ECT [x-lần giới hạn trên của giá trị bình thường] | Không có dữ liệu | > 3 |
| aPTT [x-lần giới hạn trên của giá trị bình thường] | > 1.3 | > 2 |
| INR | Không nên thực hiện | Không nên thực hiện |
- Ở những bệnh nhân rung nhĩ trong thử nghiệm RE-LY điều trị với 150 mg hai lần mỗi ngày một giá trị aPTT cao hơn 2,0 - 3,0 lần giới hạn bình thường tại nồng độ đáy liên quan đến nguy cơ tăng chảy máu.
- Các nghiên cứu dược động học cho thấy có tăng nồng độ thuốc ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận do tuổi tác. Chống chỉ định dùng Pradaxa trong những trường hợp suy thận nặng (CrCL < 30 mL/ phút).
- Nên ngừng sử dụng Pradaxa ở những bệnh nhân bị suy thận cấp.
- Dữ liệu có sẵn ở bệnh nhân < 50 kg còn hạn chế (xem mục ‘Dược động học').
- Ngừng điều trị khi xảy ra chảy máu nghiêm trọng và tìm nguyên nhân chảy máu (xem mục ‘Quá liều’).
- Không nên dùng đồng thời các thuốc có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết hoặc nên dùng thận trọng với Pradaxa (xem mục ‘Tương tác thuốc’).
- Các yếu tố, như suy giảm chức năng thận (CrCL 30 - 50 mL/phút), ≥ 75 tuổi, nhẹ cân < 50 kg, hoặc đang điều trị chất ức chế P-gp nhẹ đến vừa (ví dụ. amiodarone, quinidine hoặc verapamil) có liên quan đến tăng nồng độ dabigatran huyết tương. Sự xuất hiện của một hoặc nhiều hơn các yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ chảy máu (xem liều lượng và cách dùng).
- Việc sử dụng đồng thời của Pradaxa với các trị liệu sau đây chưa được nghiên cứu và có thể gây tăng nguy cơ chảy máu: heparin (ngoại trừ khi dùng với liều cần thiết để duy trì thông thường catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc động mạch) và các dẫn xuất heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH), fondaparinux, desirudin, các thuốc làm tan huyết khối, các thuốc đối kháng thụ thể GPIIb/llla, ticlopidine, dextran, sulfinpyrazone, rivaroxaban, prasugrel, các thuốc đối kháng vitamin K, các thuốc ức chế P-gp, itraconazole, tacrolismus, cyclosporine, ritonavir, tipranavir, nelfinavir và saquinavir.
- Sử dụng đồng thời với dronedarone làm tăng hấp thu dabigatran và không được khuyến cáo (xem “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Sử dụng đồng thời với ticagrelor làm tăng hấp thu dabigatran và có thể cho thấy tương tác dược lực học dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu.
- Nguy cơ chảy máu có thể tăng lên ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với các chất ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI) hoặc các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrine (SNRI).
- Bảng 2 tóm tắt các yếu tố có thể tăng nguy cơ xuất huyết. Xin xem các chống chỉ định trong mục ‘Chống chỉ định‘.
| Các yếu tố dược lực học và dược động học | Tuổi ≥ 75 |
| Các yếu tố gây tăng nồng độ dabigatran trong huyết tương | Yếu tố gây tăng lớn: |
|
|
| Tương tác dược lực học |
|
| Bệnh /thủ thuật với nguy cơ xuất huyết đặc biệt |
|
- Sự hiện diện của các thương tổn, tình trạng bệnh lý, thủ thuật và/hoặc các thuốc điều trị có tác dụng dược lý (ví dụ NSAIDs, các thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRIs), xem mục Tương tác), làm tăng đáng kể nguy cơ chảy máu nghiêm trọng và yêu cầu đánh giá lợi ích, nguy cơ một cách cẩn trọng. Chỉ nên dùng Pradaxa nếu lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ chảy máu.
- Việc sử dụng các thuốc làm tiêu sợi huyết trong điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp có thể được cân nhắc nếu bệnh nhân có thời gian thrombin (TT), hoặc thời gian đông máu Ecarin (ECT), hoặc thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) không vượt quá giới hạn trên (ULN) theo phạm vi tham khảo của mỗi nước.
- Trong những trường hợp khi có tăng nguy cơ chảy máu (ví dụ mới được sinh thiết hoặc bị chấn thương nặng, viêm nội tâm mạc do vi khuẩn), nhìn chung cần được theo dõi chặt chẽ (để phát hiện các dấu hiệu chảy máu hoặc thiếu máu).
- Sử dụng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) để giảm đau trong thời gian ngắn trước hoặc sau phẫu thuật không làm tăng nguy cơ chảy máu khi điều trị kết hợp với Pradaxa. Bằng chứng về việc sử dụng NSAID thông thường có thời gian bán thải dưới 12 giờ trong quá trình điều trị với Pradaxa còn chưa đầy đủ và không thấy tăng nguy cơ chảy máu.
- Trong một nghiên cứu phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF), dabigatran etexilat có liên quan đến tỷ lệ xuất huyết dạ dày - ruột nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê khi dùng dabigatran etexilat 150 mg hai lần mỗi ngày. Nguy cơ này được thấy tăng lên đáng kể ở bệnh nhân cao tuổi (≥ 75 tuổi). Sử dụng acetylsalicylic acid (ASA), clopidogrel hoặc thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), cũng như có sự xuất hiện của viêm thực quản, viêm dạ dày hay trào ngược dạ dày làm tăng nguy cơ xuất huyết dạ dày - ruột (GI). Cân nhắc dùng liều 220 mg dabigatran bằng cách uống viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày ở những bệnh nhân rung nhĩ này và nên tuân theo khuyến cáo về liều dùng trong mục Liều lượng và cách dùng. Cân nhắc sử dụng thuốc ức chế bơm propon (PPI) để ngăn ngừa xuất huyết dạ dày - ruột.
- Việc sử dụng đồng thời Pradaxa với thuốc gây cảm ứng mạnh P-gp như rifampicin làm giảm nồng độ dabigatran trong huyết tương. Các thuốc gây cảm ứng P-gp khác như St. John's Wort (cây cỏ Thánh John) hoặc carbamazepine, hoặc phenytoin cũng có thể làm giảm nồng độ dabigatran trong huyết tương, và nên thận trọng khi sử dụng phối hợp (xem “Tương tác thuốc” và “Nhóm bệnh nhân đặc biệt”).
- Các bệnh nhân đang điều trị với Pradaxa mà trải qua phẫu thuật hoặc các thủ thuật xâm lấn có tăng nguy cơ chảy máu. Do vậy, có thể cần tạm ngừng sử dụng Pradaxa để tiến hành những can thiệp phẫu thuật (xem “Dược động học”).
- Trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu hoặc các thủ thuật khẩn yêu cầu nhanh chóng đảo ngược tác dụng chống đông, cần có sẵn thuốc đặc hiệu giúp đảo ngược (PRAXBIND, idarucizumab) đối với Pradaxa.
- Liệu pháp đảo ngược hiệu quả chống đông của dabigatran nguy cơ huyết khối ở những bệnh nhân có bệnh đang mắc phải.
- Nếu bệnh nhân đã ổn định về mặt lâm sàng, và việc cầm máu đã đạt được 24 giờ sau khi sử dụng PRAXBIND (idarucizumab), có thể bắt đầu lại điều trị bằng Pradaxa.Thận trọng khi ngừng thuốc tạm thời để tiến hành thủ thuật can thiệp và đảm bảo việc kiểm soát chống đông. Thải trừ dabigatran ở những bệnh nhân suy thận có thể dài ngày hơn (xem mục Dược động học).
- Cần cân nhắc điều này trước khi tiến hành bất cứ thủ thuật nào. Trong những trường hợp nhưng xét nghiệm đông máu (xem mục “Cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “Đặc tính dược lý học”) có thể giúp xác định việc cầm máu đã đạt được hay chưa.
- Do nguy cơ tăng chảy máu, nên tạm ngưng Pradaxa trước khi tiến hành các thủ thuật xâm lấn hoặc tiến hành phẫu thuật.
- Nên ngừng tạm thời Dabigatran etexilat
- Thuốc đảo ngược đặc hiệu của Pradaxa (PRAXBIND, idarucizumab) là có sẵn nhằm nhanh chóng đảo ngược hiệu quả chống đông (xem Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp).
- Đảo ngược liệu pháp điều trị bằng dabigatran đặt bệnh nhân vào nguy cơ huyết khối do bệnh lý tiềm ẩn. Điều trị bằng Pradaxa có thể được bắt đầu trở lại 24 giờ sau khi dùng Praxbind (idarucizumab), nếu bệnh nhân ổn định về mặt lâm sàng và cầm máu đã đạt được đầy đủ.
- Nên tạm thời ngừng sử dụng Pradaxa. Nếu có thể, nên trì hoãn thủ thuật can thiệp/phẫu thuật cấp cứu ít nhất 12 giờ kể từ liều dùng cuối cùng. Nếu không thể trì hoãn phẫu thuật, có thể tăng nguy cơ chảy máu. Cân nhắc nguy cơ chảy máu giữa sự cấp bách của việc phẫu thuật (đối với chuyển nhịp xem mục “Liều lượng và cách dùng”).
- Nếu có thể, nên ngừng sử dụng Pradaxa ít nhất 24 giờ trước thủ thuật xâm lấn phẫu thuật hoặc phẫu thuật, ở những bệnh nhân có nhiều nguy cơ xuất huyết hơn hoặc trong đại phẫu khi cần đến quá trình đông máu tốt, nên ngừng sử dụng Pradaxa 2-4 ngày trước khi phẫu thuật. Thanh thải của dabigatran ở những bệnh nhân suy thận có thể dài hơn. Điều này cần được xem xét trước bất kỳ thủ thuật nào (xem Bảng 3 và “Dược động học”).
| Chức năng thận (CrCL mL/phút) | Thời gian thải trừ dự kiến (giờ) | Ngừng dabigatran trước phẫu thuật chương trình | |
| Nguy cơ chảy máu cao hoặc đại phẫu | Nguy cơ thông thường | ||
| ≥ 80 | ~ 13* | 2 ngày trước | 24 giờ trước |
| ≥ 50 - < 80 | ~ 15* | 2-3 ngày trước | 1 - 2 ngày trước |
| ≥ 30 - < 50 | ~ 18* | 4 ngày trước | 2-3 ngày trước (> 48 giờ) |
- Chống chỉ định sử dụng Pradaxa ở những bệnh nhân suy thận nặng (CrCL < 30 mL/phút) nhưng nếu trường hợp này có xảy ra thì nên ngừng sử dụng Pradaxa ít nhất 5 ngày trước khi đại phẫu.
- Các thủ thuật như gây tê tủy sống có thể cần chức năng cầm máu hoàn chỉnh.
- Nguy cơ bị khối máu tụ ngoài màng cứng hoặc tủy sống có thể tăng lên trong những trường hợp chạm thương hoặc chọc dò lặp đi lặp lại và do đặt catheter ngoài màng cứng kéo dài. Sau khi rút catheter, cần chờ ít nhất 1 giờ trước khi bắt đầu dùng liều Pradaxa đầu tiên, cần thường xuyên theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh của hiện tượng khối máu tụ ngoài màng cứng hoặc tủy sống ở những bệnh nhân này.
- Tiếp tục điều trị lại sau khi đạt được cầm máu hoàn toàn. Nên bắt đầu điều trị lại bằng dabigatran etexilat sau thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật càng sớm càng tốt khi tình trạng lâm sàng cho phép và việc cầm máu được thiết lập đầy đủ. Cần điều trị thận trọng những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu hoặc có nguy cơ hấp thu quá nhiều, đặc biệt là những bệnh nhân suy thận vừa (CrCL 30-50 mL/phút) (xem mục “Cảnh báo đặc biệt và thận trọng” và “Đặc tính dược lý học”).
- Chưa có đánh giá việc sử dụng dabigatran etexilat cho bệnh nhân đặt van tim sinh học, do đó không khuyến cáo sử dụng dabigatran etexilat trên đối tượng bệnh nhân này.
- Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của dabigatran ở những bệnh nhân này còn hạn chế và nên thận trọng khi điều trị.
- Không có dữ liệu về việc sử dụng Pradaxa ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật gãy xương hông. Do đó điều trị không được khuyến cáo.
- Trong nghiên cứu giai đoạn III RE-LY (xem mục “Đặc tính dược lý học”) tỷ lệ chung của nhồi máu cơ tim (MI) là 0,82, 0,81 và 0,64 %/ năm tương ứng với dabigatran etexilat 110 mg ngày 2 lần, dabigatran etexilat 150 mg ngày 2 lần và warfarin, nguy cơ tương đối tăng lên đối với dabigatran là 29 % so với warfarin là 27 %. Không phân biệt phương pháp điều trị, nguy cơ tuyệt đối cao nhất của nhồi máu cơ tim (MI) đã được quan sát thấy trong các phân nhóm sau đây, với nguy cơ tương đối giống nhau: bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim trước đó, bệnh nhân ≥ 65 tuổi có một trong hai bệnh kèm theo là bệnh tiểu đường hay bệnh động mạch vành, bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái < 40 %, bệnh nhân có rối loạn chức năng thận trung bình. Hơn nữa, nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn được quan sát thấy ở những bệnh nhân có sử dụng đồng thời ASA với clopidogrel hoặc chì dùng clopidogrel.
- Trong ba nghiên cứu kiểm chứng với hoạt chất, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilat cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng warfarin là 0,4 % so với 0,2% trong các nghiên cứu ngắn hạn RE-COVER và RE-COVER II; là 0,8 % so với 0,1 % trong nghiên cứu dài hạn REMEDY. Sự gia tăng trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê (p=0,022). Trong nghiên cứu RE-SONATE, là nghiên cứu thực hiện việc so sánh dabigatran etexilat so với giả dược, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) là 0,1 % ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilat và 0,2 % ở những bệnh nhân dùng giả dược.
- Trong ba nghiên cứu kiểm chứng với hoạt chất, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilat cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng warfarin là 0,4 % so với 0,2% trong nghiên cứu ngắn hạn RE-COVER và RE-COVER II; là 0,8 % so với 0,1 % trong nghiên cứu dài hạn REMEDY. Sự gia tăng trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê (p=0,022). Trong nghiên cứu RE-SONATE, là nghiên cứu thực hiện việc so sánh dabigatran etexilat so với giả dược, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) là 0,1 % ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilat và 0,2 % ở những bệnh nhân dùng giả dược.
- Hiệu quả và độ an toàn vẫn chưa được thiết lập ở bệnh nhân ung thư đang tiến triển.
- Hiệu quả và độ an toàn vẫn chưa được thiết lập ở bệnh nhân ung thư đang tiến triển.
Phụ nữ mang thai và cho con bú
Thời kỳ mang thai- Hiện không có dữ liệu lâm sàng nào về việc sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai. Nguy cơ đối với thai nhi chưa được biết.
- Phụ nữ đang trong độ tuổi sinh sản cần tránh có thai trong quá trình điều trị với Pradaxa và không nên điều trị với Pradaxa ở phụ nữ đang mang thai trừ khi lợi ích mong đợi nhiều hơn so với nguy cơ.
- Hiện chưa có dữ liệu lâm sàng. Nên thận trọng bằng cách ngừng cho con bú.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên tác động tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Ngày cập nhật: 02/10/2026
Thương hiệu chính hãng
BI
Boehringer Ingelheim
Cam kết 100% sản phẩm chính hãngThuốc kê đơn (Không bán online)
Tư vấn ngayKhách hàng đánh giá
0.0(0 đánh giá)
Lọc theo:
Chưa có đánh giá nào cho sản phẩm này
Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận và đánh giá sản phẩm nhé!

