

Mẫu mã sản phẩm có thể thay đổi theo lô hàng
Thuốc Lisopress 5mg Gedeon Richter trị tăng huyết áp 28 viên
Sản phẩm bán theo đơn bác sĩ
Thông tin vận chuyển
Giao đến Đang định vị...
Giao hàng tiêu chuẩn
Giao nhanh tận nơi toàn quốc · Đổi trả miễn phí trong 7 ngày
Thông tin chi tiết
| Danh mục | Thuốc tim mạch huyết áp |
| Hoạt chất | Lisinopril |
| Quy cách | Hộp 2 vỉ x 14 viên |
| Nhà sản xuất | Gedeon Richter |
| Số đăng ký | 599110013024 |
| Nước sản xuất | Hungary |
| Dạng bào chế | Viên nén |
| Hạn dùng | 36 tháng kể từ ngày sản xuất |
| Hàm lượng | 5 mg |
Mô tả chi tiết sản phẩm
Kích thước chữ
Thông tin chung
Lisopress 5mg Gedeon Richter chứa lisinopril 5mg, thuộc nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI). Thuốc được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, giúp làm giãn mạch và giảm sức cản mạch máu, từ đó hỗ trợ kiểm soát huyết áp. Thuốc cần được sử dụng theo đúng liều lượng và hướng dẫn của bác sĩ.
Thành phần
| Hoạt chất chính | Hàm lượng |
|---|---|
| Lisinopril | 5 mg |
Chỉ định
Chỉ định chính của Lisopress 5mg:
- Tăng huyết áp.
- Điều trị tăng huyết áp.
- Điều trị suy tim triệu chứng.
- Nhồi máu cơ tim cấp.
- Điều trị ngắn hạn (6 tuần) trên các bệnh nhân có huyết động ổn định trong vòng 24 giờ sau cơn nhồi máu cơ tim cấp.
- Biến chứng trên thận ở bệnh nhân đái tháo đường.
- Điều trị bệnh thận trên các bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường typ 2 và bệnh thận giai đoạn sớm.
Chống chỉ định
- Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc được liệt kê tại mục 6.1, hoặc quá mẫn với bất kỳ thuốc ức chế men chuyển nào khác.
- Tiền sử phù mạch liên quan đến điều trị trước đây bằng các thuốc ức chế men chuyển.
- Phù mạch di truyền hoặc tự phát.
- Ba tháng giữa hoặc ba tháng cuối của thai kỳ.
- Sử dụng Lisopress đồng thời với các thuốc chứa aliskiren trên các bệnh nhân đái tháo đường hoặc suy thận (mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/1,73 m²).
Liều lượng - Cách dùng
Cách dùng:
- Lisopress được sử dụng theo đường uống với liều một lần một lần mỗi ngày. Tương tự các thuốc có chế độ liều dùng một lần mỗi ngày khác, cần dùng Lisopress vào một thời điểm nhất định trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên Lisopress.
Liều dùng:
Liều dùng- Liều dùng cần được cá thể hóa tùy theo đặc điểm của bệnh nhân và đáp ứng trên huyết áp.
- Lisopress có thể được sử dụng dưới dạng đơn trị liệu hoặc kết hợp với các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.
- Trên các bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu khuyến cáo là 10 mg. Các bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosteron hoạt động mạnh (đặc biệt là tăng huyết áp mạch thận, mất muối và/hoặc giảm thể tích tuần hoàn, bệnh tim mất bù, hoặc tăng huyết áp nghiêm trọng) có thể bị giảm huyết áp quá mức sau liều khởi đầu. Khuyến cáo dùng liều khởi đầu 2,5 - 5 mg trên các bệnh nhân này và cần giám sát y khoa chặt chẽ khi khởi đầu điều trị. Cần dùng liều khởi đầu thấp hơn trên bệnh nhân suy thận (xem Bảng 1 dưới đây).
- Liều duy trì hiệu quả thường dùng là 20 mg một lần mỗi ngày. Nhìn chung, nếu hiệu quả điều trị chưa đạt được sau 2 đến 4 tuần với một mức liều nhất định, có thể tăng liều dùng hơn nữa. Liều dùng tối đa trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ngày.
- Tụt huyết áp có triệu chứng có thể xuất hiện khi khởi đầu điều trị với Lisopress. Biến cố này thường gặp hơn trên các bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu. Do đó cần phải thận trọng do các bệnh nhân này có thể bị mất muối và/hoặc giảm thể tích tuần hoàn. Nếu có thể nên ngừng thuốc lợi tiểu từ 2 đến 3 ngày trước khi khởi đầu điều trị với Lisopress. Ở những bệnh nhân không thể ngừng thuốc lợi tiểu, cần khởi đầu Lisopress với liều 5 mg. Cần giám sát chức năng thận và nồng độ kali huyết thanh. Liều Lisopress sau đó cần được hiệu chỉnh theo đáp ứng hạ huyết áp. Có thể tái sử dụng thuốc lợi tiểu nếu cần.
- Liều dùng trên bệnh nhân suy thận dựa trên độ thanh thải creatinin được tóm tắt trong Bảng 1 dưới đây.
| Độ thanh thải creatinin (ml/phút) | Liều khởi đầu (mg/ngày) |
| Dưới 10 ml/phút (bao gồm các bệnh nhân thẩm tách máu) | 2,5 mg* |
| 10-30 ml/phút | 2.5 - 5 mg |
| 31 - 80 ml/phút | 5 - 10 mg |
- Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày cho bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến dưới 50 kg và 5 mg một lần mỗi ngày cho bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều dùng cần được điều chỉnh cho từng bệnh nhân nhưng không vượt quá 20 mg/ngày với bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến dưới 50 kg và không quá 40 mg/ngày với bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều dùng cao hơn 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg) chưa được nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhi.
- Trên trẻ em bị suy giảm chức năng thận, cần cân nhắc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn hoặc tăng khoảng cách giữa các lần dùng thuốc.
- Lisopress có thể được dùng kết hợp với thuốc lợi tiểu, digitalis hoặc thuốc chẹn beta trên các bệnh nhân suy tim triệu chứng. Có thể dùng Lisopress với liều khởi đầu 2,5 mg một lần mỗi ngày và cần có sự giám sát y tế trong giai đoạn đầu dùng thuốc để đánh giá ảnh hưởng ban đầu của thuốc lên huyết áp. Lưu ý khi tăng liều dùng Lisopress:
- Không vượt quá 10 mg mỗi lần.
- Khoảng cách giữa 2 lần tăng liều không dưới 2 tuần.
- Tăng đến liều cao nhất bệnh nhân có thể dung nạp được nhưng không vượt quá 35 mg một lần mỗi ngày.
- Những bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp triệu chứng như bệnh nhân thiếu muối có hoặc không kèm hạ natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc các bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu mạnh cần được điều chỉnh các rối loạn này, nếu có thể, trước khi dùng Lisopress cần giám sát chức năng thận và nồng độ kali huyết thanh.
- Các bệnh nhân cần được điều trị phù hợp với các phác đồ chuẩn được khuyến cáo như thuốc tiêu huyết khối, aspirin và thuốc chẹn beta nếu có chỉ định. Có thể sử dụng kết hợp glyceryl trinitrat đường tĩnh mạch hoặc dạng hấp thu qua da cùng với Lisopress.
- Có thể khởi đầu điều trị với Lisopress trong vòng 24 giờ sau khi khởi phát triệu chứng. Không nên dùng thuốc khi huyết áp tâm thu dưới 100 mmHg. Liều khởi đầu của Lisopress là 5 mg qua đường uống, sau 24 giờ dùng 5 mg, sau 48 giờ dùng 10 mg và sau đó tiếp tục với liều 10 mg một lần mỗi ngày. Các bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (120 mmHg hoặc thấp hơn) khi bắt đầu điều trị hoặc trong 3 ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim cần dùng liều khởi đầu thấp hơn 2,5 mg đường uống.
- Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều khởi đầu của Lisopress cần được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1).
- Liều duy trì là 10 mg một lần mỗi ngày. Nếu xuất hiện tụt huyết áp (huyết áp tâm thu thấp hơn hoặc bằng 100 mmHg), có thể dùng liều duy trì hàng ngày 5 mg cùng với giảm liều tạm thời tới 2,5 mg nếu cần. Nếu xuất hiện tụt huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg trong hơn 1 giờ), cần ngừng sử dụng Lisopress.
- Cần điều trị liên tục trong 6 tuần và sau đó bệnh nhân cần được đánh giá lại. Những bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng suy tim thì cần tiếp tục sử dụng Lisopress.
- Trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 kèm bệnh thận giai đoạn sớm, liều dùng là 10 mg Lisopress một lần mỗi ngày. Khi cần, có thể tăng liều đến 20 mg/ngày để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90 mmHg.
- Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều khởi đầu của Lisopress cần được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1).
- Dữ liệu về hiệu quả và độ an toàn ở bệnh nhi tăng huyết áp trên 6 tuổi còn hạn chế trong khi chưa có dữ liệu liên quan đến các chỉ định khác trên đối tượng này. Không khuyến cáo dùng lisinopril ở trẻ em cho chỉ định khác ngoài chỉ định điều trị tăng huyết áp. Không khuyến cáo sử dụng lisinopril trên trẻ em dưới 6 tuổi hoặc trẻ em bị suy thận nặng (mức lọc cầu thận < 30 ml/phút/1,73 m²).
- Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi liên quan đến tuổi đối với hiệu quả và độ an toàn của thuốc. Mặc dù tuổi cao có liên quan đến suy giảm chức năng thận, nên sử dụng hướng dẫn về điều chỉnh liều tại Bảng 1 để xác định liều khởi đầu của Lisopress. Sau đó, cần điều chỉnh liều theo đáp ứng hạ huyết áp.
-
- Chưa có dữ liệu liên quan đến sử dụng Lisopress trên các bệnh nhân mới trải qua ghép thận. Do đó, không khuyến cáo sử dụng Lisopress trên đối tượng bệnh nhân này.
Tác dụng phụ
- Những tác dụng không mong muốn sau đây đã được ghi nhận trong khi điều trị bằng lisinopril và các thuốc ức chế men chuyển khác, với tần suất được quy ước như sau:
- Phổ biến (≥ 1/10)
- Thường gặp (≥ 1/100 đến <1/10)
- Ít gặp (≥ 1/1.000 đến <1/100)
- Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến <1/1.000)
- Rất hiếm gặp (<1/10.000)
- Chưa xác định (không thể xác định từ các dữ liệu hiện có)
| Hệ cơ quan | Thường gặp | Ít gặp | Hiếm gặp | Rất hiếm gặp | Chưa xác định |
| Rối loạn huyết học và hệ bạch huyết | Suy tủy xương; thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, thiếu máu tan máu,bệnh hạch bạch huyết | ||||
| Rối loạn hệ miễn dịch | Bệnh tự miễn | Phản ứng dạng phản vệ | |||
| Rối loạn nội tiết | Hội chứng bài tiết bất thường hormone chống bài tiệu (SIADH) | ||||
| Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa | Hạ đường huyết. | ||||
| Rối loạn tâm thần | Thay đổi tâm trạng, rối loạn giấc ngủ, ảo giác | Lú lẫn | Trầm cảm | ||
| Rối loạn hệ thần kinh | Hoa mắt, đau đầu | Dị cảm, chóng mặt, rối loạn vị giác | Hội chứng parosima (rối loạn khứu giác) | Ngất | |
| Rối loạn tim | Nhồi máu cơ tim có thể xuất hiện thứ phát sau tụt huyết áp quá mức trên các bệnh nhân có nguy cơ cao, đánh trống ngực, tăng nhịp tim | ||||
| Rối loạn mạch | Hiệu ứng tư thế (bao gồm tụt huyết áp) | Tai biến mạch máu não có thể xuất hiện thứ phát sau tụt huyết áp quá mức trên các bệnh nhân có nguy cơ cao, hiện tượng Raynaud | |||
| Rối loạn trung thất, hô hấp và lồng ngực | Ho | Viêm mũi | Co thắt phế quản, viêm xoang, viêm phế nang dị ứng, viêm phổi tăng bạch cầu ưa eosin | ||
| Rối loạn tiêu hóa | Tiêu chảy, nôn | Buồn nôn, đầy bụng, khó tiêu | Khô miệng | Viêm tụy, phù mạch đường ruột | |
| Rối loạn gan mật | Viêm gan thể tổn thương tế bào gan hoặc tắc mật, vàng da, suy gan | ||||
| Rối loạn da và mô dưới da* | Phát ban, ngứa | Mày đay, rụng tóc, vảy nến, quá mẫn/ phù thần kinh mạch: phù thận kinh mạch vùng một, các chi, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản | Vã mồ hôi, bệnh mụn nước (pemphigus, hoại tử thượng bì nhiễm độc, hội chứng Stevens - Johnson, hồng ban đa dạng, bệnh giả lympho da | ||
| Rối loạn thận và tiết niệu | Rối loạn chức năng thận | Tăng urê máu, suy thận cấp | Thiểu niệu/vô niệu | ||
| Rối loạn vú và cơ quan sinh sản | Liệt dương | Vú to ở nam giới | |||
| Rối loạn toàn thân và vị trí dùng thuốc | Mệt mỏi, suy nhược | ||||
| Thăm dò chức năng | Tăng urê máu, tăng creatinin huyết thanh, tăng men gan, tăng kali máu | Giảm hematocrit, giảm hemoglobin, tăng bilirubin huyết thanh, hạ natri máu |
- Dữ liệu an toàn từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy lisinopril thường có khả năng dung nạp tốt trên các bệnh nhi tăng huyết áp và dữ liệu an toàn trên nhóm bệnh nhân này tương tự như ở người lớn.
- Báo cáo các phản ứng có hại nghi ngờ sau khi thuốc được cấp phép lưu hành là một công việc có ý nghĩa quan trọng. Điều này cho phép giám sát liên tục cán cân lợi ích – nguy cơ của thuốc. Các cán bộ y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ phản ứng có hại nghi ngờ nào cho hệ thống báo cáo quốc gia.
Tương tác thuốc
Các thuốc điều trị tăng huyết áp
- Khi sử dụng phối hợp lisinopril với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác (như glyceryl trinitrat và các nitrat khác hoặc các thuốc giãn mạch khác), có thể xuất hiện tác dụng hiệp đồng gây hạ huyết áp. Các dữ liệu lâm sàng cho thấy phong bế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) bằng cách sử dụng phối hợp thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren có liên quan đến tăng tần suất gặp các biến cố bất lợi như tụt huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp) so với khi chỉ sử dụng một thuốc tác động trên hệ RAAS.
- Điều trị đồng thời bằng thuốc ức chế men chuyển với thuốc ức chế mTOR (như temsirolimus, sirolimus, everolimus) hoặc thuốc ức chế men endopeptidase trung tính (NEP, như racecadotril) hoặc thuốc hoạt hóa plasminogen mô có thể làm tăng nguy cơ phù mạch.
- Khi thêm thuốc lợi tiểu vào phác đồ của bệnh nhân đang sử dụng lisinopril thường dẫn đến hiệp đồng tác dụng gây hạ huyết áp.
- Các bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu, đặc biệt là những người mới thiết lập phác đồ lợi tiểu trong thời gian gần, đôi khi có thể gặp hạ huyết áp quá mức khi thêm lisinopril. Có thể hạn chế nguy cơ tụt huyết áp triệu chứng với lisinopril bằng cách ngừng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril.
- Mặc dù trong các thử nghiệm lâm sàng, kali huyết thanh thường duy trì trong giới hạn bình thường, tình trạng tăng kali máu đã xuất hiện trên một số bệnh nhân. Sử dụng các chế phẩm bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc thế phẩm muối chứa kali và các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh, đặc biệt trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận, có thể dẫn đến tăng đáng kể kali huyết thanh. Cần theo dõi nồng độ kali một cách thích hợp. Nếu sử dụng đồng thời lisinopril với một thuốc lợi tiểu thải kali, biến cố hạ kali máu do thuốc lợi tiểu có thể được cải thiện.
- Đã ghi nhận tăng nồng độ huyết thanh và độc tính của lithi có hồi phục khi sử dụng đồng thời lithi với các thuốc ức chế men chuyển. Sử dụng đồng thời với thuốc lợi tiểu thiazid có thể làm tăng nguy cơ độc tính của lithi và tăng độc tính của thuốc ức chế men chuyển. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời lisinopril và lithi, nhưng nếu phối hợp hai thuốc này được chứng minh là cần thiết, cần phải giám sát chặt chẽ nồng độ lithi huyết thanh.
- Khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển đồng thời với các thuốc chống viêm không steroid (acid acetylsalicylic ở liều chống viêm, thuốc ức chế COX-2 và các NSAID không chọn lọc), hiệu quả điều trị tăng huyết áp có thể giảm. Sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển và NSAID có thể dẫn đến tăng nguy cơ làm chức năng thận xấu đi, bao gồm suy thận cấp và tăng kali huyết thanh, đặc biệt trên các bệnh nhân đã suy giảm chức năng thận trước đó. Những biến cố này thường có khả năng phục hồi. Cần thận trọng với sự phối hợp này, đặc biệt với bệnh nhân cao tuổi. Các bệnh nhân cần được bù nước một cách thích hợp và cần được giám sát chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị phối hợp cũng như định kỳ sau đó.
- Phản ứng kiểu nitrit (các triệu chứng liên quan đến giãn mạch, bao gồm đỏ bừng, buồn nôn, chóng mặt và tụt huyết áp; những triệu chứng này có thể rất nặng) thường gặp hơn trên các bệnh nhân được điều trị đồng thời qua đường tiêm bằng phác đồ chứa vàng (như natri aurothiomalat) và thuốc ức chế men chuyển.
- Sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển với các thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống loạn thần và một số thuốc gây mê có thể làm giảm huyết áp hơn nữa.
- Các thuốc cường giao cảm có thể làm giảm hiệu quả điều trị tăng huyết áp của thuốc ức chế men chuyển.
- Các nghiên cứu dịch tễ gợi ý rằng sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với các thuốc điều trị đái tháo đường (insulin, thuốc hạ đường huyết dạng uống) có thể làm tăng tác dụng hạ đường huyết, dẫn đến tăng nguy cơ tụt đường huyết. Hiện tượng này thường gặp hơn trong những tuần đầu tiên sử dụng phác đồ phối hợp và trên bệnh nhân suy thận.
- Những bệnh nhân dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và co-trimoxazole (trimethoprim/sulfamethoxazole) có thể làm tăng nguy cơ tăng kali máu.
- Lisinopril có thể được sử dụng đồng thời với acid acetylsalicylic (với liều thường dùng trong điều trị các bệnh tim mạch), thuốc tiêu sợi huyết, thuốc chẹn beta và/hoặc các nitrat.
Quá liều và xử trí
Làm gì khi dùng quá liều?
- Dữ liệu về quá liều trên người còn hạn chế. Các triệu chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế men chuyển bao gồm tụt huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, thở nhanh, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, nhịp tim chậm, chóng mặt, lo âu và ho.
- Điều trị khuyến cáo trong trường hợp quá liều là truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý. Nếu xảy ra tụt huyết áp, cần đặt bệnh nhân ở tư thế sốc. Nếu có thể, cân nhắc điều trị với angiotensin II và/hoặc truyền tĩnh mạch catecholamin. Nếu bệnh nhân mới uống thuốc, có thể dùng các biện pháp để loại bỏ thuốc khỏi đường tiêu hóa (như gây nôn, rửa dạ dày, dùng chất hấp phụ và natri sulfat). Có thể loại lisinopril khỏi tuần hoàn chung bằng thẩm tách máu. Đặt máy tạo nhịp được chỉ định trong trường hợp nhịp tim chậm kháng trị. Cần thường xuyên giám sát các dấu hiệu sinh tồn, nồng độ chất điện giải và creatinin huyết thanh.
Làm gì khi quên 1 liều?
- Nếu quên dùng một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định.
Bảo quản
- Để thuốc nơi khô ráo, tránh ẩm, tránh ánh sáng.
- Nhiệt độ không quá 30°C.
- Để xa ngoài tầm tay trẻ em.
Lưu ý
Thận trọng khi sử dụng
Tụt huyết áp có triệu chứng
- Tụt huyết áp có triệu chứng hiếm khi xuất hiện trên các bệnh nhân tăng huyết áp không biến chứng. Trên các bệnh nhân tăng huyết áp đang dùng lisinopril, nguy cơ tụt huyết áp tăng lên nếu bệnh nhân bị mất dịch, như do dùng thuốc lợi tiểu, chế độ ăn ít muối, nôn, tiêu chảy, thẩm tách hoặc tăng huyết áp nặng phụ thuộc renin. Trên các bệnh nhân suy tim có hoặc không kèm suy thận, đã ghi nhận tụt huyết áp có triệu chứng. Biến cố này dễ xảy ra hơn trên các bệnh nhân suy tim mức độ nặng, thể hiện thông qua việc phải sử dụng thuốc lợi tiểu quai liều cao, hạ natri máu hoặc suy giảm chức năng thận. Trên các bệnh nhân có nguy cơ cao tụt huyết áp có triệu chứng, giai đoạn khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều cần được giám sát chặt chẽ. Điều này cũng áp dụng đối với các bệnh nhân mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, ở những người này việc hạ huyết áp quá mức có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
- Nếu tụt huyết áp xảy ra, cần đặt người bệnh ở tư thế nằm ngửa và truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý nếu cần. Phản ứng tụt huyết áp thoáng qua không phải là một chống chỉ định đối với các liều tiếp theo. Có thể tiếp tục sử dụng thuốc nếu huyết áp tăng trở lại sau khi bù dịch.
- Trên một số bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường hoặc thấp, việc hạ huyết áp toàn thân hơn nữa có thể xảy ra khi dùng lisinopril. Tác động này đã được dự đoán từ trước và thường không phải là lý do dẫn đến việc phải ngừng sử dụng thuốc. Nếu tụt huyết áp có biểu hiện triệu chứng, có thể cần giảm liều hoặc ngừng sử dụng Lisopress.
- Không được khởi đầu điều trị bằng lisinopril trên các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nếu bệnh nhân có nguy cơ xấu thêm tình trạng huyết động sau khi điều trị với một thuốc giãn mạch. Đó là những người bệnh có huyết áp tâm thu bằng hoặc thấp hơn 100 mmHg hoặc những bệnh nhân bị sốc tim. Trong 3 ngày đầu sau cơn nhồi máu cơ tim, cần giảm liều nếu huyết áp tâm thu bằng hoặc thấp hơn 120 mmHg. Liều duy trì cần giảm tới 5 mg hoặc tạm thời giảm tới 2,5 mg nếu huyết áp tâm thu bằng hoặc thấp hơn 100 mmHg. Nếu tụt huyết áp vẫn xuất hiện (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg kéo dài quá 1 giờ), cần ngừng dùng lisinopril.
- Tương tự các thuốc ức chế men chuyển khác, cần thận trọng khi sử dụng lisinopril trên các bệnh nhân hẹp van hai lá và tắc nghẽn dòng máu ra từ thất trái như hẹp động mạch chủ hoặc bệnh cơ tim phì đại.
- Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), cần điều chỉnh liều khởi đầu của lisinopril theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1 tại mục 4.2), sau đó hiệu chỉnh liều dùng tùy theo đáp ứng của bệnh nhân. Giám sát thường kỳ kali và creatinin là một phần của thực hành y khoa trên các bệnh nhân này.
- Trên các bệnh nhân suy tim, tụt huyết áp sau khi khởi đầu sử dụng thuốc ức chế men chuyển có thể gây suy giảm thêm chức năng thận. Suy thận cấp, thường có khả năng hồi phục, đã được ghi nhận trong tình huống này.
- Trên một số bệnh nhân mắc chứng hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận khi chỉ có một thận chức năng được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, đã ghi nhận tăng urê và creatinin huyết thanh, thường phục hồi khi ngừng thuốc. Biến cố này đặc biệt hay gặp trên bệnh nhân suy thận. Nếu bệnh nhân bị tăng áp lực động mạch thận, nguy cơ tụt huyết áp nặng và suy thận sẽ tăng. Ở những bệnh nhân này, cần khởi đầu điều trị với liều thấp, điều chỉnh liều một cách thận trọng và cần có sự giám sát y tế chặt chẽ. Do sử dụng thuốc lợi tiểu có thể là một yếu tố góp phần gây ra những biến cố kể trên, cần ngừng sử dụng thuốc lợi tiểu và giám sát chức năng thận trong những tuần đầu tiên sử dụng lisinopril.
- Trên một số bệnh nhân tăng huyết áp không kèm bệnh mạch máu thận rõ ràng trước đó, đã xuất hiện tăng urê máu và creatinin huyết thanh, thường ở mức độ nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi sử dụng đồng thời lisinopril và thuốc lợi tiểu. Điều này dễ xảy ra hơn trên các bệnh nhân có biểu hiện suy thận trước đó. Có thể cần giảm liều và/hoặc ngừng thuốc lợi tiểu và/hoặc lisinopril.
- Trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, không dùng lisinopril nếu có bằng chứng rối loạn chức năng thận, được xác định bởi nồng độ creatinin huyết thanh cao hơn 177 μmol/l và/hoặc protein niệu vượt quá 500 mg/24 giờ. Nếu xuất hiện suy chức năng thận trong quá trình điều trị (nồng độ creatinin huyết thanh trên 265 μmol/l hoặc cao gấp 2 lần trị số trước khi điều trị), bác sĩ cần cân nhắc ngừng lisinopril.
- Phù mạch ở mặt, các chi, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản hiếm khi được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị với các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, bao gồm lisinopril. Biến cố này có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian điều trị. Nếu gặp trường hợp này, cần ngừng lisinopril ngay và áp dụng các biện pháp theo dõi, xử trí thích hợp để đảm bảo các triệu chứng thoái lui hoàn toàn trước khi bệnh nhân xuất viện. Ngay cả khi phù chỉ xuất hiện ở lưỡi, không gây suy hô hấp, vẫn có thể cần giám sát bệnh nhân đủ lâu bởi vì việc điều trị bằng thuốc kháng histamin hoặc corticosteroid có thể không đạt hiệu quả.
- Rất hiếm khi, phù mạch liên quan đến thanh quản và lưỡi dẫn đến tử vong đã được báo cáo. Các bệnh nhân phù mạch tại lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản có thể bị tắc nghẽn đường thở, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật đường thở. Trong những trường hợp này, cần điều trị cấp cứu ngay. Biện pháp điều trị có thể bao gồm sử dụng adrenalin và/hoặc duy trì thông khí. Bệnh nhân cần được giám sát y khoa chặt chẽ cho đến khi các triệu chứng thoái lui hoàn toàn và tình trạng của bệnh nhân đã ổn định.
- Các thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch với tỷ lệ cao hơn trên nhóm bệnh nhân da đen so với các nhóm bệnh nhân có màu da khác.
- Các bệnh nhân có tiền sử phù mạch không liên quan đến thuốc ức chế men chuyển có thể tăng nguy cơ phù mạch khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển.
- Nguy cơ phù mạch (như phù đường thở hoặc lưỡi, kèm theo hoặc không kèm theo suy hô hấp) tăng lên ở những bệnh nhân sử dụng đồng thời thuốc ức chế mTOR (như sirolimus, everolimus, temsirolimus).
- Đã ghi nhận phản ứng dạng phản vệ trên các bệnh nhân được thẩm tách bằng màng lọc thông lượng cao (ví dụ AN69) và điều trị đồng thời với thuốc ức chế men chuyển. Trên các bệnh nhân này, cần cân nhắc sử dụng loại màng thẩm tách khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.
- Hiếm khi, những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong khi tách loại lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) bằng dextran sulphat gặp phản ứng dạng phản vệ đe dọa tính mạng. Có thể tránh phản ứng này bằng cách tạm ngừng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi đợt tách loại LDL.
- Các bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong khi đang điều trị chống mẫn cảm (ví dụ, nọc độc của côn trùng cánh màng) đã gặp các phản ứng dạng phản vệ. Ở những bệnh nhân tương tự, có thể tránh các phản ứng này bằng cách tạm ngừng thuốc ức chế men chuyển; tuy nhiên, các phản ứng này có thể xuất hiện lại khi vô ý dùng thuốc trở lại.
- Rất hiếm khi các thuốc ức chế men chuyển có liên quan đến một hội chứng với biểu hiện ban đầu là vàng da ứ mật, sau đó tiến triển thành hoại tử gan kịch phát và (đôi khi) dẫn đến tử vong. Cơ chế của hội chứng này chưa được hiểu rõ. Các bệnh nhân đang dùng lisinopril mà gặp triệu chứng vàng da hoặc tăng đáng kể men gan cần ngừng sử dụng thuốc và có biện pháp giám sát y tế thích hợp.
- Giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu đã được ghi nhận trên các bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Giảm bạch cầu trung tính hiếm khi xuất hiện trên các bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có các yếu tố nguy cơ kèm theo. Giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt có khả năng tự phục hồi sau khi ngừng thuốc ức chế men chuyển. Cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng lisinopril trên các bệnh nhân mắc bệnh lý mạch máu collagen, đang sử dụng phác đồ ức chế miễn dịch, đang sử dụng allopurinol hoặc procainamid hoặc có đồng thời hai hay nhiều yếu tố nguy cơ kể trên, đặc biệt khi bệnh nhân có đang bị suy giảm chức năng thận. Nhiễm khuẩn nặng, đôi khi không đáp ứng với phác đồ kháng sinh tích cực, đã xuất hiện trên một số bệnh nhân. Nếu lisinopril được sử dụng trên các bệnh nhân này, cần định kỳ giám sát công thức bạch cầu và hướng dẫn bệnh nhân phát hiện và báo lại bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào.
- Có bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren làm tăng nguy cơ tụt huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp). Do đó, không khuyến cáo phong bế kép hệ RAAS thông qua việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren.
- Nếu buộc phải dùng phác đồ phong bế kép, quá trình điều trị cần được giám sát bởi bác sĩ chuyên khoa và theo dõi chặt chẽ huyết áp, chức năng thận và điện giải đồ. Không nên sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường.
- Tỷ lệ phù mạch do thuốc ức chế men chuyển trên nhóm bệnh nhân da đen cao hơn so với các nhóm bệnh nhân có màu da khác.
- Tương tự các thuốc ức chế men chuyển khác, tác dụng hạ huyết áp của lisinopril trên nhóm bệnh nhân da đen có thể kém hơn so với các nhóm bệnh nhân có màu da khác, có lẽ là do nhóm bệnh nhân da đen có tỷ lệ cao hơn về bệnh lý tăng huyết áp với hoạt tính renin thấp.
- Ho đã được báo cáo khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Đặc điểm của ho trong những trường hợp này là không có đờm, dai dẳng và tự thoái lui sau khi ngừng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển cần được lưu ý khi chẩn đoán phân biệt ho.
- Trên các bệnh nhân đang trải qua đại phẫu hoặc đang được gây mê bằng thuốc gây mê làm giảm huyết áp, lisinopril có thể ức chế sự hình thành angiotensin II thứ cấp sau khi giải phóng bù renin. Nếu xuất hiện tụt huyết áp và phản ứng này được xem là do cơ chế nói trên, có thể xử trí bằng cách bổ sung thể tích.
- Tăng kali huyết thanh đã được ghi nhận trên một số bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc ức chế men chuyển, bao gồm lisinopril. Những bệnh nhân có nguy cơ tăng kali máu bao gồm người suy thận, đái tháo đường, sử dụng đồng thời thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolacton, triamteren hoặc amilorid), các chế phẩm bổ sung kali hoặc thế phẩm muối chứa kali hoặc sử dụng đồng thời với các thuốc gây tăng kali huyết thanh khác (như heparin, thuốc phối hợp trimethoprim/sulfamethoxazole hay còn được biết với tên co-trimoxazole). Nếu việc sử dụng đồng thời các thuốc này được xem là cần thiết, khuyến cáo thường xuyên giám sát nồng độ kali huyết thanh.
- Trên các bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng các thuốc chống đái tháo đường dạng uống hoặc insulin, cần giám sát chặt chẽ đường huyết trong tháng đầu tiên sử dụng thuốc ức chế men chuyển.
- Nhìn chung, không khuyến cáo sử dụng đồng thời lithi và lisinopril.
- Không nên sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong thai kỳ. Trừ trường hợp bắt buộc phải tiếp tục sử dụng thuốc ức chế men chuyển, các bệnh nhân có dự định mang thai cần được đổi sang thuốc trị tăng huyết áp khác đã được xác định là an toàn để sử dụng trong thai kỳ. Khi đã xác định mang thai, cần ngừng sử dụng thuốc.
Phụ nữ mang thai và cho con bú
Thời kỳ mang thai- Không khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu thai kỳ. Chống chỉ định sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ.
- Bằng chứng dịch tễ học liên quan đến nguy cơ gây dị tật thai nhi sau khi phơi nhiễm với thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu thai kỳ chưa đưa ra được kết luận cuối cùng; tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng thuốc làm tăng nhẹ nguy cơ trong giai đoạn này. Trừ trường hợp bắt buộc phải tiếp tục sử dụng thuốc ức chế men chuyển, các bệnh nhân có dự định mang thai cần được chuyển sang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp khác đã được xác định là an toàn để sử dụng trong thai kỳ. Khi đã được chẩn đoán có thai, cần ngừng sử dụng thuốc ức chế men chuyển ngay và bắt đầu sử dụng phác đồ thay thế nếu có chỉ định.
- Sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng giữa và ba tháng cuối của thai kỳ có thể gây độc tính đối với bào thai người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, tụt huyết áp, tăng kali máu). Trong trường hợp có phơi nhiễm với thuốc ức chế men chuyển từ giai đoạn ba tháng giữa thai kỳ, khuyến cáo thực hiện siêu âm kiểm tra chức năng thận và xương sọ.
- Những trẻ sơ sinh có mẹ đã dùng thuốc ức chế men chuyển cần được giám sát chặt chẽ nguy cơ tụt huyết áp.
- Do chưa có thông tin về việc sử dụng lisinopril trong thời kỳ cho con bú, không khuyến cáo sử dụng thuốc này và nên thay thế bằng các thuốc khác với dữ liệu về độ an toàn đã được thiết lập đầy đủ hơn, đặc biệt khi đang nuôi trẻ sơ sinh hoặc trẻ sinh non bằng sữa mẹ.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
- Khi lái xe hoặc vận hành máy, cần lưu ý rằng đôi khi có thể xuất hiện các triệu chứng chóng mặt hoặc mệt mỏi.
Ngày cập nhật: 26/09/2026
Thuốc kê đơn (Không bán online)
Tư vấn ngayKhách hàng đánh giá
0.0(0 đánh giá)
Lọc theo:
Chưa có đánh giá nào cho sản phẩm này
Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận và đánh giá sản phẩm nhé!

